TIỂU SỬ VÀ NHẬT KÝ TRONG TÙ CỦA MỤC SƯ QUẢN NHIỆM, TÔ ĐÌNH TRUNG
Quyển sách này được đề tặng cho các con tôi Hoàng Bích, Hương Thơm, Phục Sinh, Phục Hưng, Khải Huyền như một bằng chứng sống để các con tôi ghi nhớ và tiếp tục dấn thân để tận hiến cho Chúa Jêsus và cũng được đề tặng cho người vợ yêu quý của tôi Ép-ra-im vì những gì nàng đã chịu đựng và giúp đỡ trong những năm tháng tôi còn trong lao lý và cũng đề tặng cho hết thảy những ai muốn tiếp bước để tận hiến cho Chúa Jêsus Christ.
CON NGƯỜI VÀ XUẤT THÂN
Tôi được sinh ra ngày 14 tháng 12 năm 1964 tại thôn Đông-Tây, xã Bình Hiệp, huyện Bình Sơn, tỉnh Quãng Ngãi. Trong một gia đình thuộc tầng lớp bần nông lúc bấy giờ. Tôi biết Chúa qua cha mẹ của tôi. Tôi lập gia đình năm 1988 với một vợ và có 5 người con. Tôi được Chúa kêu gọi vào một đêm năm 1987(đêm 23-2-1987). Tôi nhập ngũ vào Quân Đội đầu năm 1982 cho đến 1985 và sau đó tôi trở về địa phương.
SỰ KÊU GỌI CỦA CHÚA
Sau những ngày chinh chiến ác liệt ở chiến trường Cam-pu-chia. Cảm ơn Chúa tôi vẫn còn sống và không bị vết tích gì, nhưng căn bịnh sốt rét ác liệt đã nhiễm vào cơ thể tôi, kéo dài triền miên và không có dấu hiệu gì của sự chữa lành. Mặc dầu có nhiều thuốc men, ròng rã 2 năm từ 1985 đến 1987 mà căn bịnh ấy vẫn không có dấu hiệu của sự chữa lành. Con đường cùng mà trong đầu tôi nghĩ ra là cái chết. Thực ra tôi là Cơ Đốc Nhân nhưng tôi chẳng biết gì về Kinh Thánh và Ơn Chữa Lành Thiên Thượng. Tôi cũng chưa từng thấy một phép lạ nào xảy ra trong Hội Thánh Chúa. Cha mẹ tôi, các anh em tôi cũng vậy họ sống không khác gì với người ngoại.
Một ngày nọ, đó là ngày buồn chán nhất đời tôi. Tôi đến nhà anh tôi cách nhà cha tôi khoảng 400m, căn nhà trống không và sắp sụp đổ. Lúc đó anh của tôi đã đi xa và bỏ lại căn nhà đó. Lúc đó chỉ có một mình tôi, khoảng 8 giờ tối tôi bất chợt giở Kinh Thánh ra đọc và Cầu Nguyện: “Chúa ơi! Ngài có phải là Chân Thần không ? Ngài có phải là Chúa toàn năng không?Ngài có phải là Cha yêu thương không? Có thật không? Nếu Ngài có thật xin hãy chứng minh cho tôi thấy Ngài. Tôi đang đau đớn quá chừng! Tôi sắp không chịu nỗi. Nếu Ngài có thật xin hãy chửa lành cho tôi. Tôi xin hứa tôi sẽ dâng trọn đời tôi để phục vụ Ngài. Xin giúp tôi ham thích lời Ngài và không còn ham thích tiểu thuyết và thú vui trần thế nữa.”
Thật lạ lùng thay ! vào khoảng 12 giờ đêm, lúc tôi đang ngủ tôi nghe có tiếng kêu “Trung con ơi! Trung con ơi! Trung con ơi!” Tiếng kêu ấy rất rõ ràng, thánh thót và êm diệu tràn đầy tình yêu và sự thuyết phục làm cho tâm linh tôi cảm thấy thật sự bình an trong đêm thanh vắng không chút sợ hãi. Tôi thức dậy và nhớ lại tất cả những gì mình đã cầu nguyện. Tôi thắp đèn dầu lên và ngồi lại bàn. Không kìm chế được cảm xúc dâng trào, nước mắt tôi bắt đầu tuôn đổ. Ngài đã thuyết phục tôi! Chúa đã thuyết phục tôi! Nước mắt tôi cứ tuôn đổ và tôi bắt đầu khóc nức nở và cầu nguyện, tôi không hiểu tại sao mình cầu nguyện nhiều như vậy và cũng không biết mình đang nói gì từ lúc 12 giờ đêm mãi cho đến sáng. Ôi! điều kỳ diệu! thật diệu kỳ! Con người tôi như bay bỗng trên từng mây, tôi cảm thấy thật là sung sướng. Giờ đây tất cả những gánh nặng những đám mây u ám đã biến mất khỏi cuộc đời tôi. Cơn bệnh sốt rét đi đâu rồi? Nó đã tan biến mất rồi. Cảm tạ Chúa. Ha-lê-lu-gia!!!
Tôi trở về nhà ăn sáng và hỏi bố tôi: Ba ơi! Lúc 12 giờ đêm ba có kêu con không? Ba tôi nói: “Ba đâu có kêu con? Ba kêu con làm gì?” Sau đó tôi kể lại những gì đã xảy ra trong đêm cho cả gia đình tôi cùng nghe. Ai nấy đều ngạc nhiên và sững sốt nói với nhau và vui mừng. Đây là căn bệnh được Chúa chữa lành đầu tiên của tôi và của gia đình cũng như của Hội Thánh Tin Lành Bình Sơn vào đêm 23/2/1987. Cảm ơn Chúa Ngài không những chữa lành cho tôi mà Ngài còn thay đổi đời sống của tôi một cách hoàn toàn cả bên trong lẫn bên ngoài. Trước đó tôi để mái tóc thật dài, mái tóc làm cho ba tôi phải khốn khổ và ông nhiều lần bảo tôi phải cắt đi nhưng tôi không vâng lời. Giờ đây chỉ có Chúa cảm phục tôi và tôi vâng lời Ngài cắt mái tóc dài đi. Tôi không còn thích đọc tiểu thuyết thay vào đó tôi đọc Kinh Thánh. Tuy tôi không hiểu gì, nhưng tôi rất thích. Con người tôi giờ đây bắt đầu thay đổi tôi yêu Đấng Giải Cứu tôi. Tôi không còn đi chơi, rượu chè với bạn bè nữa, không còn trai gái với các cô thiếu nữ người ngoại đạo nữa …buổi tối tôi đọc Kinh Thánh chỉ một mình tôi. Tôi bắt đầu chiến lược với gia đính tôi. Tôi bắt đầu hướng dẫn tất cả các em tôi nhóm lễ bái hằng đêm. Tôi không biết gì hơn ngoài việc đọc Kinh Thánh và cầu nguyện.
TĂNG TRƯỞNG THUỘC LINH
Tôi bắt đầu rất sốt sắng. Tôi liên tục đi nhà thờ. Tôi nói với ông truyền đạo Lê Văn Đoàn tại Hội Thánh Tin Lành Bình Sơn rằng mỗi tối thứ 5 hằng tuần chúng ta hãy nhóm lại cầu nguyện với nhau nhé. Và ông đồng ý với tôi. Kể từ đó mối quan hệ giữa thầy và trò trở nên thân mật hơn. Hội Thánh hằng tuần nhóm chỉ có 3 hoặc 5 người thôi. Ngay cả sự hợp tác để cùng nhau cầu nguyện cũng chỉ có tôi với thầy mà thôi. mà còn. Nhưng không hiểu sao tôi lại yêu mến Chúa như thế?
Một bữa nọ trời mưa rất dữ dội, nước lũ đổ ầm ầm ngập cả cánh đồng và ngay cả đường Quốc lộ 1A nước cũng ngập cả 1m, nhưng hôm đó đúng là tối thứ 5, sao tôi lại liều như thế tôi không sợ nước cuốn, băng đi trong đêm mà đường thì rất xa từ nhà tôi đến nhà thờ là 6 km. Cảm ơn Chúa tôi vượt qua dòng nước hung dữ và đến nhà thờ. Đến nơi tôi nghĩ nhà thờ cao hơn mực nước nhưng không ngờ nước lũ cũng không chừa ngôi nhà thờ. Ông bà truyền đạo sững sốt khi nhìn thấy tôi trong nhà thờ. Ông bà nói rằng:“Sao em liều lĩnh như vậy, không đi nhóm một tuần có sao đâu?” Tôi lặng thinh không biết nói sao? Tôi cũng không biết động cơ nào mà tôi lại yêu mến sự nhóm lại như vậy. Có phải tôi điên hay cuồng tín không? Tôi chỉ biết một điều là sự thúc đẩy của Chúa nên tôi đi nhóm cầu nguyện. Cảm ơn Chúa! Tôi phải ở lại nhà thờ cho đến khi nước rút và mới trở về.
SỰ BIẾN ĐỔI LỚN TRONG ĐẠI GIA ĐÌNH
Ba má tôi nhất quyết không đồng tình với việc tôi có quan hệ với ông bà truyền đạo Lê Văn Đoàn.
Một ngày nọ ba tôi tổ chức một bữa tiệc liên hoan mời bà con dòng tộc. Tôi rất yêu mến và quý trọng ông bà truyền đạo nên tôi cũng mời họ đến tham dự buổi tiệc ấy. Bà con, dòng họ của tôi có mặt đầy đủ và họ đang chuẩn bị kế hoạch để bắt bớ tôi. Ai nấy đều uống rất nhiều rượu để chuẩn bị tinh thần tấn công tôi. Tôi bị các chú, bác đưa ra phía trước và những lời phỉ báng ồ ạc bắt đầu tấp vào mặt tôi như bão táp tấp vào thân thể tôi vậy. Mồ hôi tuôn ra ướt toàn thân, tôi không được quyền nói lên lời nào. Chỉ nghe tiếng quát mắng:
“Mầy ngu quá! Ngu quá ! Mầy theo Mỹ theo Âu rồi! Mầy hãy đi qua bên đó mà sống đi! Vì ở đây không chấp nhận mầy nữa. Ở Á Đông nầy không có thứ như mầy! Mầy không thể bỏ cái phong tục Á Đông này. Vì nó là phong tục ngàn đời truyền kiếp, xưa bày nay làm. Ở Á đông nầy thì phải cúng tế, phải ăn của cúng. Phong tục này là phong tục hiếu kính ông bà cha mẹ. Sao mầy cả gan không ăn của cúng. Mầy là đồ không ra gì! Không biết tổ tông ông bà ! Ngu quá! Hãy qua Mỹ đi! Hãy qua Mỹ đi!”
Lúc nầy tôi bị tê liệt và không thể phản ứng lại một lời nào. Trong lúc nầy ông truyền đạo của tôi lại đến. Ba tôi đến đối diện với thầy truyền đạo và nói “Thầy là người chủ trương cho thằng con tôi bỏ ông bỏ bà, không ăn đồ cúng.” Ông Đoàn sửng sốt vì câu nói nầy ông bị xốc và chuẩn bị quay xe ra về. Ông nổi giận và đáp lại lời Kinh Thánh rằng:“…không nóng cũng không lạnh nên ta sẽ nhả ngươi ra khỏi miệng ta.”(Khải 3: 16). Rồi sau đó ông quay xe ra về nhưng tôi chặn ông lại và mời ông dùng bữa. Ông cầm lòng không đặng đành ở lại dự tiệc với tôi. Bửa tiệc thật giống như tiễn đưa người qua đời, ai nấy ăn uống không biết mình đã ăn món gì không chút hương vị, thật lạnh nhạt. Cuộc chiến chưa chấm dứt.
Về phần tôi hằng ngày cứ cầu nguyện cho gia đình tôi để Chúa thay đổi họ. Tôi cũng bắt đầu dán những câu gốc, lời của Chúa dạy về việc cấm ăn của cúng thần tượng và những câu gốc nói về tình yêu của Chúa, đức tin…ôi đi qua đi lại cứ nhìn lên tường mà đọc như thế ngày này qua ngày khác, tháng nọ qua tháng kia.
Cảm ơn Chúa! Ha-lê-lu-gia ! Qua những lời ấy đã thấm dần “đâm vào hồn linh cốt tuỷ,” tác động đến gia đình tôi. Ba tôi giờ đây đã bắt đầu nhóm lễ bái với tôi. Sau đó là các em tôi, cuối cùng là mẹ tôi. Cả gia đình của tôi vui vẽ, tin cậy nơi Chúa và quyết định từ bỏ việc tham gia trong sự cúng tế và ăn của cúng. Chẳng bao lâu sau đó ba tôi được tín nhiệm trong Hội Thánh và ông được bầu làm tư hoá cho Hội Thánh. Sự ảnh hưởng từ Lời của Chúa thật mầu nhiệm. Vì“lời của Đức Chúa Trời là lời sống và linh nghiệm, sắc hơn gươm hai lưỡi, thấu vào đến đỗi chia hồn, linh, cốt, tuỷ, xem xét tư tưởng và ý định trong lòng.”(Hê bơ rơ 4 :12)
Và tôi tiếp tục nói về Chúa cho ông chú ruột của tôi rồi đến ông nội thúc và cô tôi và kế đến là các anh chị em của tôi ở các vùng xa hơn.
BÀN CHÂN ĐẸP LÀ BÀN CHÂN RAO GIẢNG TIN LÀNH
Tôi bắt đầu đi xa hơn theo tiếng gọi của Chúa đến các vùng ven biển cách nhà tôi khoảng 20km (làng Phước Thiện, An Cường, Bình Hải). Tôi chỉ biết làm chứng lại những gì mà Đức Chúa Trời đã làm cho tôi. Tôi kể với Cô Lý, Cô Đào và các bạn thanh niên tại đó. Lạ lùng thay tôi kể đến đâu thì họ khóc nức nỡ đến đó. Các chị đều khóc lóc ăn năn và trở lại với Chúa. Mặc dầu đường xa từ nhà họ đến nhà thờ khoảng 18km nhưng họ rất sốt sắng trong việc nhóm lại. Bây giờ những dãy ghế trong nhà thờ bắt đầu chật vì số người tin Chúa ngày càng tăng. Từ chổ chị Lý Tin Lành lan ra đến anh Phước. Người ta bắt đầu đập bể thần tượng và từ bỏ con đường cũ và bắt đầu ăn năn tin Chúa, phép lạ xảy ra, số người tin Chúa ngày càng tăng. Chỉ trong vòng 5 tháng thì cả làng đều trở lại tin Chúa. (Hiện nay số tín đồ khoảng 100 hộ)
Không dừng tại đó tôi lại tiếp tục gây dựng tại các địa phương khác như Bình Thới, Bình Phước, Bình Mỹ, Bình Chương… Cảm ơn Chúa Ngài đã hành động làm cho những anh em đã bỏ Ngài giờ đây ăn năn trở lại với Chúa. Đúng như lời Ngài “Ngươi sẽ dựng lại nơi đổ nát.” Công việc Chúa rất phát triển nhưng chỉ có một mình tôi chưa có ai đồng công.
CƠN BẮT BỚ CHẤN ĐỘNG NĂM 1991
Việc rao giảng Tin lành là một sự cảm thúc đặc biệt từ Đức Thánh Linh. Không có bất cứ động cơ nào của con người, không một đồng tiền ủng hộ nào, không có Kinh Thánh, không có truyền đạo đơn. Tôi phải cố gắng đi tìm những cuốn kinh thánh và truyền đạo đơn cũ, rách … Chỉ có chiếc xe đạp rất tồi tàn mà tôi phải đi những tuyến đường rất khó khăn khoảng 50km.
Tôi cũng được ưu đãi làm kế toán cho Hợp-tác-xã làng tôi. Từ năm 1986-1990 tôi chỉ hưởng một chút lợi tức theo mùa, vợ tôi làm ruộng. Làm kế toán Hợp Tác Xã, tôi có nhiều thời gian rãnh. Tôi sắp xếp công việc để đi truyền giáo ban ngày. Còn ban đêm về tôi phải thức thâu đêm để tát nước cần giọt vào ruộng lúa. Cuộc sống tuy rất vất vả với công việc cực nhọc nhưng tôi cảm thấy rất vui sướng và thoả lòng trong Chúa.
Cảm ơn Chúa tôi có được mối liên lạc với một anh em người dân tộc tên là Hồ Hoàng Duy. Tôi không ngờ tại miền núi Trà bồng lại có người tin Chúa. Anh tin Chúa là nhờ vào một cuốn Kinh Thánh mượn từ người Công Giáo. Anh đến nhóm tại Nhà thờ Bình Sơn. Tôi thật ngạc nhiên không ngờ Trà Bồng là xứ khó khăn nhất không có người truyền đạo mà cũng có người tin Chúa. Đức Chúa Trời thật kỳ diệu. Anh Duy và tôi làm bạn và kết nghĩa với nhau tại nhà thờ Bình Sơn. Anh ấy rất quý mến tôi, có lần anh đến nhà tôi nhìn thấy cảnh nhà sắp sập, anh bảo tôi rằng để anh và các bạn anh ở Trà Bồng xuống cùng nhau giúp tôi sữa lại nhà. Đúng vậy anh trở về và sau đó anh cùng ba người bạn của anh trở lại và cùng tôi đốn cây sửa nhà. Sau khi hoàn tất tôi gởi anh ấy một số tiền nhưng anh nhất quyết không nhận và nói rằng: nếu tôi nhận tiền của anh thì còn có ý nghĩa gì? Ôi lời nói ấy làm tôi cảm động biết bao, thật tôi không thể nào quên. Tình cảm nảy sinh ra từ nơi ấy.Tôi bắt đầu những chuyến viếng thăm Trà Bồng vào năm 1990.
Từ thuở nhỏ cho đến giờ tôi mới đến làng của người Dân Tộc và mới được gặp họ. Họ là người dân tộc thuộc bộ tộc Koor. Khi nhìn thấy họ tôi thật sự cảm động và thương cho họ, họ rất nghèo đói nhưng họ có tấm lòng rất hiếu khách, tiếp đãi tôi bằng tấm chân tình. Tôi bắt đầu nói Tin lành cho họ, đêm đầu tiên có khoảng 40 người cả người lớn lẫn trẻ em tập trung tại nhà anh Duy nghe tôi nói chuyện lạ mà họ chưa bao giờ nghe. Lúc đó có 6 người tin Chúa. Tôi cầu nguyện cho họ và sau đó nhờ anh Duy thông dịch sang tiếng dân tộc để họ có thể hiểu và tuyên xưng đức tin.
Ai nấy đều vui vẽ, sẵn sàng tiếp nhận Chúa Jesus làm Cứu Chúa của đời mình. Từ đó tiếng đồn vang ra người ta nói với nhau về Tin lành. Một luồng gió thuộc linh thổi qua Tổ 3-Trà Sơn. Lạ thay cả làng kéo nhau đến và tin nhận Chúa qua lời cầu nguyện của anh Duy và Tôi. Tôi hướng dẫn anh cách hướng dẫn họ cầu nguyện tuyên xưng đức tin. Chỉ trong vòng một năm Tin Lành lan ra rất nhanh toàn xã và đến Trà Nham.
Lúc bấy giờ chính quyền Trà Bồng mới phát hiện Tin Lành đang bùng nổ, họ bắt đầu tập trung tất cả lực lượng cho việc đàn áp Tin Lành và họ tuyên bố rằng nếu không nhanh chóng thì Tin lành sẽ lan ra toàn huyện Trà Bồng. Họ báo động bắt bớ đạo, buộc dân chúng từ bỏ đạo. Nhưng dân làng quyết định không bỏ đạo. Họ bắt đầu dùng bạo lực, cầm súng đến đàn áp, họ xúc lúa, gạo bắt gia súc, gia cầm ( gà, vịt, heo, bò ….). Bắn gia súc tại chổ và ăn thịt.
Trong năm 1990 họ đã hơn 100 lần trấn áp đạo Chúa bằng nhiều cách. Nhưng họ càng trấn áp thì Tin lành càng phát triển, lòng của dân làng rất kiên định. Họ không thể ngăn được cơn phục hưng, Tin Lành tiếp tục bùng nổ. Cơn trấn áp ngày càng mãnh liệt hơn và dã man hơn.
Có lần cả đội du kích kéo đến nhà anh Đinh Tấn Lộc dùng dao giết thịt con bò cái đang chửa của anh và làm thịt ăn ngay tại nhà anh, với hai hàng nước mắt rưng rưng của vợ chồng anh không nói một lời nào còn nỗi sợ bị đánh đập kế tiếp (vì đó là tài sản duy nhất mà gia đình anh có).
Trường hợp của anh Lộc là một trong vô số trường hợp bị trấn áp, cướp đoạt tài sản.
Cơn bão lữa không dừng lại đó, nó lan nhanh đến các địa phương khác. Bây giờ chính quyền lại tiếp tục khủng bố tại Trà Nham (Tây Nam Trà Sơn). Nơi đây có khoảng 120 người tin Chúa cũng bị đàn áp dã man, họ bị đánh đập một cách tàn nhẫn. Nặng nề nhất là trường hợp của anh Trường, anh bị đánh và bị thương rất nặng phải chuyển đến bệnh viện cấp cứu. Tiếp đến là họ khống chế bằng sức mạnh để bắt bò, bắn heo của dân làng.
Một hôm nọ họ kéo một con bò của một anh em ra ngoài rừng để làm thịt. Trong khi họ đang làm bổng nhiên có ánh rất kỳ diệu chiếu từ trời vào ngay chổ họ đang chuẩn bị giết con bò. Vì luồng ánh sáng dữ dội ấy bọn chúng hoảng hốt bỏ chạy không dám hó hé lại chổ con bò vì sợ luồng ánh sáng ấy.
Thế là cuộc giết bò không thành công. Đúng là phép lạ. Ha-lê-lu-gia! Ngợi khen Chúa vì sự bên vực của Ngài.
Lại một cuộc càn quét dã man nữa đến nỗi dân làng chịu không nỗi phải bỏ làng kéo nhau đến Toà Hành Chính của Tỉnh Quảng Ngãi xin giải quyết. Buổi tối hôm ấy chính quyền tỉnh ra lịnh cúp điện vì sợ dân chúng tại thị xã nổi dậy vì họ đang phẫn nộ. Chính quyền tỉnh dàn xếp bằng cách dùng xe chở toàn bộ số dân nầy về Trà Bồng (có khoảng 70 người).
Lời nói của họ với chính sách và pháp luật của họ là phi sự thật. Họ nói rằng họ cho tự do tín ngưỡng, nhưng họ không cho phép để thực hiện điều đó chút nào.
Họ còn ký sắc lệnh buộc dân làng bỏ đạo, nếu ai tin đạo sẽ bị tịch thu tài sản, ruộng đất…
Chiến lược bẽ gậy chống trời không thành công. Đánh với người không đánh lại, lấy của người người không đòi lại mà vẫn thua. Bây giờ họ tìm ra chiêu mới là chiêu tìm diệt người chủ chốt đem Tin Lành đến Trà Bồng. Được dân chúng báo cáo là có anh Tô Đình Trung ở dưới Bình Sơn lên đây để truyền đạo. Họ hầm hực ra lịnh triệt để, nếu ai gặp Trung thì báo ngay có lệnh: “bắn bỏ không một lý do hay điều kiện gì.”
Điều mong ước của họ sắp thành hiện thực. Vào cuối tháng 12-1991. Chúa tỏ cho tôi thấy trong một khải tượng có một tóp người hung bạo đang mang súng ống đến bắt tôi. Đúng vậy, tôi không thể cưỡng lại điều mà Chuá cho phép xảy ra. Trong thời điểm này tôi lại tiếp tục các cuộc viếng thăm các anh em tại Trà Bồng. Lần này tôi mang theo một túi xách gồm một số đồ cũ và số truyền đạo đơn “Thông Điệp của Thượng đế cho mỗi gia đình." Không may tôi vừa đến nhà anh Duy ai đâu mà báo thế!Tóp Du Kích và công an ập đến trấn áp tôi, lập biên bản và bắt lấy tôi trong khi tôi chưa kịp cầu nguyện và nói chuyện gì được với các anh em. Ngay khi gặp tôi là họ bắt ngay và dẫn về Đồn thuộc huyện Trà Bồng. Họ nhốt tôi vào một căn phòng biệt giam đặc biệt. Hoàn cảnh dường như đen tối với tôi, tôi kể như đã chết vì bọn chúng chính là “sư tử rống vừa vồ lấy được con mồi.” Tại đây tôi được biệt riêng và tôi chỉ biết Cầu nguyện mà thôi. Cảm ơn Chúa! Lúc nầy các anh em bên ngoài lại chổi dậy cầu thay cho tôi. Không những thế mà họ còn đến thăm viếng, an ủi, khích lệ tôi. Họ đem cơm, gạo, quà đến để nuôi tôi. Có những anh em liều lĩnh không sợ nguy hiểm lẽn vào nhà tù để cầu nguyện cho tôi trong những ngày tôi đau ốm. Tuy ở trong tù chỉ có 12 ngày mà tôi cứ tưởng như là một năm vậy. Kế đến họ đem tôi đến giữa hội trường, triệu tập dân chúng để phỉ báng tôi, thề nguyền hại tôi. Ông Tùng CA tuyên huấn của Huyện Trà Bồng lúc bấy giờ nổi giận đập bàn, tuyên bố rằng :
“ 4000 năm lịch sử không có đạo giáo nào đến đây chỉ có đạo Bác Hồ mà thôi. Sao anh dám cả gan đem đạo đến đây. Dân chúng đang làm ăn yên tĩnh không có chuyện gì xảy ra. Anh lại làm cho rối loạn toàn huyện Trà Bồng, làm cho cực nhọc cả cán bộ và dân chúng.”
Ông bắt tôi phải bồi thường 1.000.000đ công của họ đi tìm bắt tôi và phải bồi thường 1 con trâu cho dân chúng cúng ăn để xây dựng lại đoàn kết và một điều nữa là phải giải tán toàn bộ Tin Lành tại Trà Bồng. Ông lấy biểu quyết giữa dân chúng rằng tội của tôi có đáng giết không? Họ biểu quyết là giết hắn đi, tóc gáy của tôi bắt đầu dậy lên. Tôi nghĩ, thôi nếu họ có giết thì tôi về với Chúa. Họ nói rằng “bấy lâu nay không gặp được mày tưởng rằng mày là con người oai phong, lẫm liệt, ông sư thầy mới làm việc như vậy … ai ngờ mầy chỉ là một người bình thường mà làm cho rúng động cả Trà Bồng.” Tôi nói: Thưa quý ông cán bộ Tỉnh, Huyện, Xã cùng tất cả dân làng. Các ông cứ xử tôi theo như pháp luật nếu tôi đáng chết thì tôi chết. Ông Tạo là đồn trưởng Công An quát: “để tôi xử lý.” Vậy, sau đó ông chuyển toàn bộ hồ sơ của tôi đến huyện Bình Sơn và một lần nữa tôi bị giam ở tại trại giam Bình Sơn, nơi đây tôi bị giam hơn 1 tháng. Ngay từ lúc gặp mặt công an Bìnámơn tôi được ăn liền mấy bạt tai. Tại đây tôi bị giam trong một phòng giam với một vài người khác nữa. Tôi tiếp tục làm chứng cho các phạm nhân khác và có ông T và anh H tin Chúa. Lại cũng có một số anh em khác tin Chúa cũng bị nhốt trong trại gần bên tôi nhưng họ không dám quan hệ với tôi. Họ rất sợ chính quyền, xin thả họ ra và họ hứa sẽ không nhóm họp nữa. Sau 3 ngày họ trở về địa phương còn tôi thì 10 ngày sau họ mới truy tìm được hết tung tích về tôi và công việc Truyền Bá Phúc Âm của tôi trong huyện Bình Sơn, huyện Trà Bồng và Sơn Hà. Tất cả đều bị bại lộ, họ biết thông tin về tôi qua các anh em tại Sơn Hà bị bắt họ sợ nên đã khai mọi thông tin họ biết về tôi rằng tôi cũng truyền giáo tại Sơn Hà.
Sau 10 ngày tiếp theo họ đưa tôi ra trước dân chúng sĩ nhục tôi, cảnh cáo tôi ép buộc tôi phải từ bỏ, không được truyền giáo nữa. Bắt buộc tôi phải cam đoan và làm kiểm điểm. Lúc bấy giờ tôi có hơi sợ nên tôi đã hứa với họ rằng tôi sẽ không đi truyền giáo tại Trà Bồng, Sơn Hà và các nơi khác…
Dân chúng họ rất ngạc nhiên, họ nói thầm rằng truyền đạo là việc tốt mà tại sao chính quyền lại hành xử với người nầy như vậy. Thật không hiểu.
Một thời gian ngắn sau đó, tôi được trở về nhà đoàn tụ với vợ con. Bây giờ tôi bắt đầu với công việc làm ăn. Tôi cũng bất mãn với ông truyền đạo Đoàn. Ông nói với tôi Hội Thánh đang bình yên không có chuyện bắt bớ. Tất cả là do anh gây ra và bây giờ công an cũng gây khó khăn cho tôi. Tôi bị sốc vì câu nói ấy của ông truyền đạo. Tôi buồn lắm và tôi không còn đến nhà thờ thường xuyên như trước nữa.
Ít lâu sau đó tôi gặp một người bạn, anh ấy rủ tôi vào Sài gòn để học Kinh Thánh, tôi nhận lời anh vào Sài Gòn học. Sau đó tôi trở về cùng vợ con tự sinh hoạt nhóm họp tại gia đình. Cứ làm việc trong 6 ngày và ngày Chúa nhật là ngày nghỉ gia đình tôi tự nhóm thờ phượng Chúa.
Cuối năm 1992. Vào một đêm nọ trời mùa đông mưa ròng rã khoảng lúc 10 giờ đêm, lúc nầy tôi đang ngủ. Tôi nghe có tiếng chân rào rạt bên ngoài và tiếng kêu “mở cửa! mở cửa! mở cửa!” Tôi thức dậy và vợ tôi cũng thức dậy đốt đèn lên và mở cửa thì ra là anh Quang và anh Hơn đến thăm chúng tôi.
Điều làm tôi ngạc nhiên và mừng rỡ là anh Quang lâu lắm rồi chúng tôi mới gặp anh. Anh là một thanh niên yêu mến Chúa ở Nghĩa Hành (quê vợ tôi). Chúng tôi là bạn của nhau và đã xa cách nhau 5 năm rồi. Giờ đây anh đã tham gia vào một Đoàn Truyền Giáo tại Sài Gòn. Trong đêm ấy anh bắt đầu giải thích cho chúng tôi vài câu Kinh Thánh. Lời Chúa làm cho chúng tôi cảm thấy rất khích lệ và cảm động hơn là, không những bằng lời nói mà cả hành động yêu thương của anh đối với gia đình chúng tôi. Giữa đêm mưa tầm tã nhưng anh không ngại khó khăn đến thăm chúng tôi. Chúng tôi trò chuyện hơn nữa đêm rồi hai anh ra về vì ngày mai hai anh phải dạy lớp học Kinh Thánh tại Mộ Đức. Cùng lúc ấy hai anh mời tôi vào Mộ Đức học Kinh Thánh, tôi rất thích thú và nhận lời. Thế thì ngày mai đã đến và tôi vào lớp học Kinh Thánh.
Lúc ấy chúng tôi bắt đầu những bài học đầu tiên của chương trình SOW I để thiết lập nền tảng ban đầu. Cảm ơn Chúa loạt bài nầy thực sự được xức dầu, lời của Chúa bắt đầu đánh động tôi và thách thức tôi. Qua những bài học này tôi dường như được hồi sinh. Chúng tôi vừa học đến bài thứ tư thì có một anh em khác từ Sài Gòn ra. Tên anh là Đức, chúng tôi chưa từng gặp nhau nhưng mới chỉ lần đầu mà tôi cảm thấy rất thân thiết và quen thuộc như quen từ lâu rồi vậy. Anh không ngại mệt nhọc gì cả vừa mới ra anh liền vào lớp và bắt đầu dạy bài 4. Tên của bài học nầy là Phép Báp-Têm Trong Đức Thánh Linh .
Có một điều gì đó lạ lùng đang xảy ra khi chúng đang đứng nhận tiếng lạ như ngày lễ Ngũ Tuần vậy. Ai nấy đều nhận được phép báp tem trong Đức Thánh Linh còn tôi thì chưa kinh nghiệm được gì. Tôi tha thiết khao khát và khóc lóc ăn năn những lỗi lầm trước đây nhưng tôi cũng chưa nhận được. Tôi rất buồn và mặc cảm, tại sao nhiều người mới tin Chúa mà nhận được còn tôi thì tin Chúa đã lâu và cũng có đôi chút hiểu biết về Kinh Thánh nhưng tại sao? Tôi rất khao khát và xin các anh dạy thêm cho tôi. Tôi quyết định mời các anh về nhà tôi và tôi mời tất các các anh em của tôi ở Hội Thánh CMA đến tham dự học. Anh Đức và anh Quang nhận lời mời của tôi. Tôi nhờ các anh chở tôi lên Sơn Hà mời các anh em như Anh Troan, anh Vinh, Anh N,...Ở Trà Bồng tôi mời anh Duy, Lộc và Nghĩa Hành tôi mời Phụng Tiên, Anh Tâm. Ở Bình Sơn Tôi mời anh Mỹ, Việt. Tất cả là 11 học viên tham gia khoá học này. Chúng tôi tụ họp và học tại nhà tôi, anh Đức và anh Quang dạy chúng tôi. Họ dạy rất hiên ngang, không chút sợ hãi giữa thời điểm hết sức khó khăn. Họ giảng dạy mạnh mẽ cách tự do như ở Thánh Đường tự do vậy. Tiếng nói của họ không cần thông qua máy tăng âm mà vẫn to. Tôi thử đi xa khoảng 100m mà vẫn nghe rõ ràng. Đúng như lời Chúa trong sách Phi-e-rơ vậy “Hãy giảng như rao lời sấm truyền của Đức Chúa Trời ..”(I Phie rơ 4:11). Ai nấy trong lớp học đều ngạc nhiên…Tự hỏi? không biết mấy ông thầy này học ở đâu mà giỏi thế? Cho đến thời điểm ấy chưa có trường thần đạo nào của Hội Thánh tư gia cả. Lời giảng dạy của họ rất rõ ràng và xác quyết như các sứ đồ vậy. Chắn chắn là họ đã học TRƯỜNG THẦN HỌC CỦA ĐỨC THÁNH LINH rồi.
Đây là lần đầu tiên trong quá trình tin Chúa của các học viên trong lớp được học hỏi những bài học quý giá và có tầm ảnh hưởng lớn đến như vậy. Cảm ơn Chúa Ngài đã dùng loạt bài học nầy để giúp chúng tôi lớn lên, tăng trưởng. Đặc biệt là bài học số 4 trong chương trình SOW I, là bài học có giá trị và có sức thu hút mạnh nhất. Khi Thầy Đức dạy bài học nầy ai nấy đều ăn năn sự vô tín của mình và khát khao nhận lãnh Đức Thánh Linh, khóc lóc lớn tiếng đến nỗi dâng làng xung quanh hoảng hốt không biết chuyện gì xảy ra. Họ chạy đến xem chỉ thấy chúng tôi đang cầu nguyện mà thôi. Và họ đồn sự việc nầy ra xa hơn đến nỗi cả làng đều biết. Cảm ơn Chúa những sự kêu ngạo, tự cao cho rằng mình hiểu biết nhiều chỉ là rào cản ngăn trở tôi kinh nghiệm được Đức Thánh Linh. Cảm ơn sự nhân từ của Ngài. Ngài yêu mến tôi và dùng bài học buổi hôm ấy dạy dỗ và thuyết phục tôi và giúp tôi kinh nghiệm và nhận lãnh phép báp tem trong Đức Thánh Linh. Tất cả anh em học trong lớp học đều khao khát nhận lãnh Phép Báp tem trong Đức Thánh Linh nhưng không phải tất cả mọi người đều nhận được chỉ có những người đơn sơ không để lý trý làm chủ mới nhận được mà thôi. Hôm ấy có anh Lộc, Duy, Tôi, cô Phụng Tiên và Ép ra im nhận được.
Tôi sung sướng vô cùng được nhận sự ban cho của Chúa. Tôi cầu nguyện to tiếng, cầu nguyện liên tục bằng tiếng lạ, càng cầu nguyện tôi càng thấy thích thú và mãnh mẽ dần lên. Giả sử lúc đó có ai đem con dao đến đâm vào hông tôi cũng không hay vì tôi đang chìm đắm trong sự chiêm ngưỡng Đức Thánh Linh như Ê tiên đầy dẩy Đức Thánh Linh, giảng dạy rất mạnh mẽ. Không sợ chết, đến nỗi người ta ném đá ông cũng không sợ. Ông vẫn ung dung và cầu nguyện Chúa tha tội cho họ vì họ làm đều họ không biết. Sau khi hoàn tất khoá học nầy anh Đức phối hợp với chúng tôi thiết lập Hội Thánh tại Quảng Ngãi.
Sau đó chúng tôi cùng hợp tác và bắt tay nhau kết ước sẽ tiếp dục duy trì việc nhóm lại và tất cả các anh em trong lớp học kết ước cùng nhau hầu việc Chúa. Anh Đức và anh Quang cũng hứa là họ sẽ tiếp tục giữ mối liên hệ với chúng tôi và họ sẽ tiếp tục giúp đỡ chúng tôi. Mãi cho đến bốn tháng sau chúng tôi cũng không nghe tin tức gì từ họ cả. Về phần anh em chúng tôi các anh em rất đơn sơ họ cũng hơi chút hoang mang vì không biết mình đang sinh hoạt ở hệ phái nào. Không biết thông công với ai.
Anh em cứ đến nhà tôi hằng tháng để hiệp nguyện và cứ mỗi lần như vậy tôi phải chạy đi mua gạo, và ra đồng để tác cá lấy thực phẩm cho các anh em. Còn tiền xe cho các anh em đi lại cũng rất khó khăn. Thật là khó cho chúng tôi. Chúng tôi không biết phải làm gì vì không có tài chính. Mà anh em thì rất đơn sơ họ rất dễ bị vấp ngã.
Còn các anh em ở Miền Núi như anh Duy và anh Lộc thì tiếp tục hoạt động rất mạnh mẽ. Nhưng rất còn non trẻ về lời Chúa. Sau đó có một số biến cố xảy ra và anh em ít liên lạc với tôi.
Riêng tôi, tôi cảm thấy rất vui mừng và phấn khởi khi nhận được báp-têm trong Đức Thánh Linh. Tôi liên tuc ra đi phát triển Hội Thánh mà quên mất cầu hỏi ý Chúa. Tôi bắt đầu với một Nhóm Tế Bào nhỏ tại quê vợ tôi vì tôi nghĩ rằng nơi đây tôi có nhiều ảnh hưởng với cha mẹ vợ, anh em vợ và một số anh em khác ở đây và rồi chúng tôi bắt đầu thiết lập việc nhóm lại lúc đầu có 10 người và sau đó số lượng cứ tăng lên dần. Tôi cử anh Vang và anh Hồng Anh hướng dẫn nhóm lại với tư cách là quản nhiệm Hội Thánh tại Nghĩa Hành. Sau đó tôi trở về địa phương và tiếp tục cho các nhóm tế bào khác. Không lâu sau đó tôi nghe tin công an đến nhà anh Hồng Anh ra lệnh cấm không cho nhóm họp, hơn nữa kinh tế gặp nhiều khó khăn. Nhiều tín đồ tại đây vì sợ chính quyền nên không tiếp tục. Sau đó Hội Thánh tan rã.
Phần tôi tiếp tục phát triển Hội Thánh tại địa phương “Giêrusalem”. Tôi bắt đầu từ trong gia đình và những người hàng xóm. Lúc đầu có cô Ba, vợ chồng anh Cường, Việt, Hùng, Trung, Thích, Nhuế. Nhóm tế bào lúc đầu có khoảng 6 gia đình. Tôi cầu nguyện suốt đêm, làm chứng cho từng nhà trong làng và cả cán bộ nữa. Nhưng vì sợ chính quyền nên họ không dám đi nhóm.
Một thời gian ngắn sau đó, Hội Thánh địa phương cũng tan rã vì cớ chính quyền và những hiểu lầm trong Hội Thánh. Tôi rất buồn và quyết định kiêng ăn cầu nguyện với Chúa suốt 3 ngày nhưng chẳng tìm được lời giải đáp nào cho vần đề này.
Sau đó tôi quyết định tiếp tục cho công việc Chúa tại Trà Bồng. Bởi vì tôi yêu người Trà Bồng rất nhiều. Sau đó tôi dành thời gian lên xuống liên tục để chăm sóc, gây dựng và mở Hội Thánh tại miền núi này. Cùng thời điểm này thầy Đức từ Sài Gòn ra, thầy cùng tôi đi thăm viếng các điểm nhóm tại Trà Bồng. Chúng tôi dừng chân tại Trà Phú, tại nhà anh chị Thanh. Anh chị tiếp đãi chúng tôi rất niềm nỡ và sau đó chúng tôi nói về Chúa cho gia đình này. Sau đó anh chị cùng các con chấp nhận tin Chúa. Chúng tôi cầu nguyện cho họ.
Sau chuyến đi đó anh Đức phải quay về Sài Gòn còn tôi phải về quê chăm sóc vợ và con. Đứa con thứ 3 vừa mới chào đời (Tô Ngọc Phục Sinh ) con tôi chỉ có 14 ngày là tôi phải tiếp tục cho công việc Chúa tại Trà Bồng nên chiều 29 tháng 4 năm 1995 tôi tranh thủ thời gian đến đó để nhóm lại với các anh em. Lúc bấy giờ các anh em báo tin cho tôi rằng công an đang lục soát khắp nơi để tìm bắt anh.Vừa khi nghe tin đó tôi tìm cách trốn thoát ngay nhưng không kịp. Họ dùng xe gắn máy cùng với 7 du kích đuổi theo tôi. Tôi nấp vào bụi cây bên đường. Họ không thể phát hiện ra tôi. Đám du kích này tích cực tìm kiếm suốt đêm không ngủ giống như 40 người Giu đa thề nguyền giết Phao lô chẳng ăn uống chi hết (Công vụ 23)
Vào lúc 1 giờ 30 phút đêm đó tôi nghĩ chắc công an sẽ không tìm tôi nữa đâu vì qúa khuya rồi. Nào ngờ tôi vừa bước ra khỏi bụi cây thì bị tốp du kích chiếu đèn bin và phát hiện ra ngay lập tức. Chúng ập đến và bắt tôi như bọn cướp vậy. Chúng đưa tôi vào một căn nhà gần đó và bắt đầu lập biên bản. Ông Phát trưởng công an dùng bin đập vào mặt tôi lia lịa như mưa vậy. Đến nỗi tôi choáng váng và bất tĩnh. Họ bắt đầu khám xét trong túi xách tôi có truyền đạo đơn, Kinh Thánh, quần áo, băng cát-sét. Họ kết luận tôi là người Truyền Đạo. Tôi thừa nhận điều đó. Họ rất mừng vì đã tìm ra tôi trong lịnh bắt khẩn cấp TÔ ĐÌNH TRUNG. Họ tổ chức ăn liên hoan ngay trong đêm. Sau đó họ giải tôi lên Hội Trường tại xã Trà Phú. Dùng nhiều lời phỉ báng và lăng nhục tôi trước dân chúng. Sau đó bọn chúng đưa tôi đến một căn phòng rất tối và nhốt tôi vào đó. Cảm tạ Chúa vì Ngài có chương trình tốt cho tôi. Tôi chẳng hề sợ hãi gì. Như Đavít xưa “Dầu khi tôi đi trong trũng bóng chế tôi cũng sẽ chẳng sợ tai hoạ gì vì Chúa ở cùng tôi, cây trượng và cây gậy Chúa an ủi tôi.” (Thi thiên 23 : 4)
TRẠI GIAM TRÀ BỒNG
Ngày 29/04 đến ngày 30/04/1995 tức là ngày Lễ Kỷ Niệm Miền Nam Việt Nam hoàn toàn giải phóng. Trước thời gian tôi bị bắt có 3 đầy tớ Chúa cũng bị bắt gồm có anh Duy, Lộc và Trường bị nhốt gần 2 tháng tại trại giam Trà Bồng. Chiến lược dập tắt Tin Lành này là lần cuối cùng trong năm 1995. Chiến lược này là một chiến lược có tổ chức có liên quan từ chính phủ đến địa phương. Họ đem thí điểm chiến lược này tại Trà Nham. Bắt tín hữu bỏ đạo bằng cách ra những đạo luật rất ác nghiệt. Nếu bỏ đạo thì họ sẽ cấp lương thực, gạo, muối, thuốc men và cùng với sự bảo vệ của họ về mặt an ninh, kinh tế. Còn không thì bắt toàn bộ nhốt tù. Tín hữu Trà Nham bị áp bức đến đường cùng đến nỗi phải thừa nhận bỏ đạo để cán bộ đem cát-sét ghi âm. Vâng! Bọn chúng cũng có thực hiện lời hứa là cung cấp lương thực cho số tín hữu này. Vừa khi các tín hữu này thừa nhận bỏ đạo thì chúng thông báo cho toàn huyện Trà Bồng biết. Thế là dường như bọn chúng đã thành công trong việc dập tắt Tin lành tại Trà Nham. Tiếp đến chúng kéo đến Trà Sơn và cũng bắt đầu áp dụng đạo luật này với tín đồ ở đây. Chúng bắt 3 Nhóm Trưởng của các Hội Thánh ở đây là Thầy Duy, Lộc và Trường (ngày 5-3-1995) cho đến ngày 30/04/1995 anh em đã gặp tôi trong tù.
Cảm ơn Chúa tại màn đêm tăm tối ấy tôi học được rất nhiều kinh nghiệm. Anh Trường nói đêm hôm qua tôi mơ thấy 4 vì sao sáng tôi không biết có điềm gì đây. Những đêm trước chỉ thấy có 3 mà bây giờ thì lại 4. Chắc có thêm một người nữa là ai vậy ? thì ra là anh Trung là người dẫn đầu chúng ta tin Chúa. Halêlugia! Ngợi khen Chúa giờ đây cả thảy chúng ta đều ở đây.
Tôi mới đến Trà Bồng là ngày 30/04/1995 cả quân và dân họ xôn xao dự lễ mừng Giải Phóng. Còn tôi thì vừa đến phòng thẩm vấn hỏi cung thì bị một đòn tới tấp, không ngừng. Cảm ơn Chúa vì cớ danh Ngài. Cán bộ ở đây không cần hỏi tôi nhiều chỉ cần bắt được tôi là đủ. Bây giờ họ dành cho tôi một căn phòng đặc biệt nhất. Căn phòng số 2 bên trong 1 căn phòng kín.
Nơi này gọi là “biệt giam”. Không mấy ai được vào đây chỉ dành riêng cho loại tội phạm nguy hiểm nhất. Loại I thì mới được vào đây. Tức là tôi được vinh dự hưởng cái quyền lợi ấy. Ngay cả các anh Duy, Lộc, Trường cũng không được hưởng cái quyền lợi này.
Đây chính là nơi tiểu tiện của các phạm nhân. Chính vì thế nó rất là hôi thối và rất kinh khủng. Bề dài và bề ngang chỉ vừa đủ cho tôi nằm nhưng không đủ để duỗi thẳng đôi chân của mình ra. Bốn phía được xây dựng rất kỹ lưỡng. Bên trên là một lớp sắt rất dày. Hơn nửa rất kín nên chẳng có tí ánh sáng nào lọt vào được. Ban ngày cũng như ban đêm. Tôi không thể nhận ra đâu là ngày mà đâu là đêm. Tiêu chuẩn mà họ cấp cho tôi là một cái bô để tiểu và cầu tại chổ. Mỗi ngày 2 chén cơm lường. Có lúc ông cán bộ Sơn quên mở cửa. Tôi phải sống chung với sự hôi thối của mùi phân người cùng với nước tiểu lai láng khắp sàn nhà. Không có bất cứ một chiếc chăn hay mùng ,mền gì cả. Cả căn phòng cực hôi thối không sao chịu nỗi. Đây là cơ hôi thuận tiện cho các chú muỗi làm việc với tôi. Được tin các ông cán bộ này quên mở cửa phòng tôi vì lý do bận đi tán gái.
Ai mà chịu cảnh này được? Cảm ơn Chúa Ngài cho phép thiên hạ cư xử với tôi như vậy. Ở đây nếu tôi không hát ngợi khen Chúa thì tôi không thể sống được. Ngày và đêm tôi chỉ biết ngợi khen và cầu nguyện mà thôi. Và tôi cảm thấy thoả thích và vui sướng vì cớ Danh Chúa. Các cán bộ nghe tôi hát ngợi khen Chúa thì họ rất bực mình. Họ bảo nếu tôi không cầu nguyện và hát nữa thì họ sẽ chuyển tôi đến một phòng giam khác khá hơn. Còn nếu không không thì họ sẽ cứ nhốt cho đến chết trong căn phòng đặc biệt đó. Tôi nói: Cán bộ thử nghĩ xem nếu tôi không hát và không cầu nguyện ở đây thì làm sao tôi sống được. Vậy là tôi cứ phải ở trong căn phòng đặc biệt ấy.
Ở đây tôi học được nhiều bài hoc đắt giá về lắng nghe tiếng Chúa và cách để thành công trong việc mở mang Hội Thánh. Tôi nhận thấy nhiều đều nhóm tôi đã mở ra nhưng đã gặp nhiều khó khăn và thất bại như Nghĩa Hành, Bình Sơn, Trà Phú. Chúa không muốn tôi dùng khả năng sức riêng của mình mà mở Hội Thánh. Ngài muốn tôi phải tuân thủ theo sự dẫn dắt của Ngài và lệ thuộc hoàn toàn vào Ngài như Chuá Jêsus thuận phục Cha Ngài vậy. (Phi líp 2 : 8)
Chúng tôi gọi đây là TRƯỜNG ĐỨC THÁNH LINH. Lúc đầu tôi rất oán hận những con người hành hạ thân xác tôi. Tôi không thể tha thứ cho họ được, tôi là người giảng Tin Lành, làm việc thiện mà tại sao họ lại đối xử với tôi cách tàn nhẫn như vậy. Tôi nghĩ chỉ có thể rủa sả họ chứ không thể chúc phước cho họ được. Thật vậy hằng ngày tôi cầu nguyện công bố sự rối loạn cho công an và viện kiểm soát. Đúng vậy công an liên tục gây rối với nhau và viện kiểm soát cũng thế bọn chúng luôn tranh cãi với nhau. Còn ông Sơn người trực tiếp hành hạ tôi thì cũng gặp rắc rối. Bố ông gây sự và đốt nhà ông, vợ con ông thì liên tục đau ốm, ông phải quay về nhà để dàn xếp công việc. Chính ông cũng mắc bệnh nặng, hành hại thân thể ông. Ngay lúc đó Chúa nhắc tôi: Con nhớ không? khi ta bị ta hành hạ, nhiếc móc, đánh đập và thậm chí đóng đinh ta trên thập giá Ta đã nói gì với họ. Phải chăng? Lạy Cha! xin tha tội cho họ vì họ không biết mình đang làm gì.” ( Lu ca 23 : 34 ). Ta có sủa sả họ không? tại sao con lại làm thế? Lời nhắc nhở này cứ thôi thúc trong lòng tôi. Bây giờ tôi mới sực nhớ lại một bài học mình đã học CHẾT BÃN NGÃ. Làm sao tôi có thể nguôi cơn giận này. Tôi bắt đầu sáng tác những bản nhạc để hát hằng ngày để xoá đi hận thù.
"Thôi hãy chết hãy chết đi bãn ngã này đi, thế giới có nghĩa là gì? Trần thế có nghĩa gì đâu, rồi sẽ tan đi theo ngày tháng để lại con người nay đau thương thất vọng thế thôi.
Thôi hãy chết đi hãy chết bãn ngã này đi. Sức sống Cứu Chúa tràn ngập lòng này. Tràn cả niềm vui cho trần thế. Để lại con người nguồn yêu thương và hy vọng từ đây.
Rồi thế là thôi. Tôi chấp nhận cái chết từ đây, để Jêsus Cứu Chúa sống mãi trong tôi Ngài làm chủ đời tôi. Ngài là Chúa của tôi, tôi không còn sống nữa Lạy Chúa của tôi! "
Cảm ơn Chúa qua bài hát này. Nó tác động vào trái tim tôi, tôi cảm nhận đươc sự yêu thương dành cho người bắt bớ và hành hạ tôi. Từ đó tôi bắt đầu cầu thay cho họ thì họ đưa tôi ra khỏi căn phòng ác nghiệt ấy. Chỉ trong vòng 2 tháng sống trong cái phòng đặc biệt ấy mà thân thể tôi trở nên tiều tụy, giảm sút nghiêm trọng và đặc biệt là lúc tôi nhìn thấy ánh sáng mặt trời tôi không thể chịu nỗi tôi bị ngã dài xuống mặt đất.
Cảm ơn Chúa tuy thân thể tiều tuỵ nhưng sự sống thuộc linh bên trong thì trào dâng. Một hôm nọ tôi hát suốt đêm và cầu nguyện trong ân tứ rất mạnh mẽ. Cán bộ dẫn một phạm nhân khác đến phòng tôi. Anh này khi mới bước vào phòng nghe tôi hát lớn tiếng và cầu nguyện mạnh mẽ trong ân tứ thì hoảng hốt và la lên: “nếu cán bộ giết tôi thì giết chứ đùng để tôi ở đây đối mặt với anh này tôi cảm thấy có gì rất mạnh và rất khác trong con người này, tôi rất sợ.” Cán bộ hăm doạ và đòi đánh nhưng anh ta khăng khăng không chịu ở cùng phòng với tôi. Tôi biết sự sống bên trong là Thánh Linh và ác thần không thể chịu nỗi. Cán bộ cố thuyết phục anh ta và nói không sao đâu anh ta sẽ cầu nguyện cho anh được bình an. Sau đó anh ta đồng ý vào cùng phòng với tôi. Và tôi bắt đầu đặt tay cầu nguyện cho anh. Anh ta thiếp đi trong giấc ngủ ngon và sáng thức dậy anh lại cảm ơn tôi vì anh cảm nhận được sự bình an. Cảm ơn Chúa hầu hết phạm nhân đến trại giam Trà Bồng đều được chinh phục cho Chúa Jêsus. Qua sự làm chứng và hướng dẫn của tôi. Họ rất đơn sơ chỉ biết cầu nguyện và hát những bài hát mà tôi tập thôi.
Sau 2 tháng biệt giam các anh em Duy, Lộc, Trường mới đến gần và tiếp xúc với tôi được. Chúng tôi rất yêu thương nhau và đùm bọc nhau trong lúc khó khăn này. Cán bộ không còn căng thẳng với chúng tôi như trước nữa. Chúng tôi tiếp tục sáng tác nhiều bài hát, bài thơ trong tù nữa. Tôi chỉ trích dẫn một số bài thôi vì có rất nhiều.
Cùng vang lên tiếng hát ngợi khen Jêsus. Halêlugia Ngợi Khen Đấng Christ. Cứu Chúa Jêsus ban phước cho những ai vì cớ danh Jêsus mà phải ở tù. Ha- lê-lu-gia (4 x)
Dù nguy nan lấn áp trong lòng chúng ta thật ngợi khen Jêsus đã ban đắc thắng. Hãy hát vang lên đi. Thật phước cho những ai vì cớ Danh Jêsus mà phải ở tù. Ha-lê-lu-gia.(4x)
Rồi mai bình minh sẽ đến. Màn đêm tăm tối sẽ tàn. Ngài mai Chúa đến cùng ta. Ngài sẽ ban phần thưởng cho người tội tôi không còn nữa. Nhờ ơn Jêsus gánh thay, lòng tôi cất tiếng ngợi ca. Ha-lê-lu-gia! Kính khen Ngài.
Cảm ơn Chúa! Thiên đàng không chỉ ở trên trời mà cũng ở trong lòng người. Dầu chốn nào, nơi nào Thiên đàng cũng thể hiện. Vì Chúa ở đâu thì thiên đàng ở đó. Chúng tôi luôn ngợi khen Ngài .
Thêm một ca khúc mang tên THIÊN ĐÀNG LÀ ĐÂY. Đây là ca khúc làm cho cán bộ phải nhức đầu cảm thấy dường như chiến lược đàn áp tin lành đã bị thất bại.
Thiên đàng là đây. Chính Jêsus ngự trong lòng này. Lòng tôi sung sướng mãi luôn ca vang. Thiên đàng là đây. Ha-lê-lu-gia ( 4X )
Vào tháng 7/1995 ông cán bộ Hải đến chụp hình 4 anh em chúng tôi. Ông nói chụp hình này là để truy tố ra toà và sẽ ở tù. Chắc các anh không bỏ Chúa thì phải ở tù. Chúng bèn thuyết phục và ra điều kiện và cuối cùng chúng thuyết phục được một anh em. Trước thảm cảnh gia khổ càng hơn sẽ xảy ra dài hạn, còn vợ anh thì mới sinh con, gạo thì hết sạch còn tình hình Hội Thánh thì đang khủng hoảng, thiếu vắng người thăm viếng chăm sóc. Anh quyết định đến với cán bộ Hải và Thanh ký giấy từ bỏ đạo và hứa sẽ nói với người khác tại làng cùng bỏ đạo. Còn những an hem khác cũng ở trong tình thế hết sức nghẹt nghèo. Giữa gia đình và sẽ chịu khổ lâu dài vì cớ Chúa. Đây là một tình huống rất khó cho các an hem nhưng tôi trấn an họ và họ đã đồng ý cùng ở lại tù với tôi, không bỏ Chúa.
Sau khi thuyết phục được một anh em, cán bộ Thanh xuống thuyết phuc tôi và nói người ta đã ký rồi còn Trung thì sao? Ký đi thì cán bộ cho về. Tôi thẳng thừng nói với cán bộ Thanh rằng: Không! Tôi không thể bỏ đạo. Vì từ hồi giờ Chúa yêu tôi. Cứu tôi Chúa chưa bao giờ hại tôi. Ngài không bỏ tôi sao tôi lại nở bỏ Ngài được. Không! Không đâu! Cán bộ Thanh nói: “không thì ở tù.” Tôi nói dẫu có chết tôi cũng không bỏ Chúa.
Sau đó cán bộ về phòng làm việc còn ba chúng tôi thì khóc nức nỡ vì biết tin một an hem đã chấp nhận bỏ đạo. Chúng tôi cầu nguyện xin Chúa rũ lòng xót thương. Thay đổi ý định của người anh em ấy. Không thể như vậy được chúng tôi khóc suốt một buổi và cầu nguyện. Còn người anh em ấy lúc đã thừa nhận bỏ đạo thì sắc mặt buồn lắm, cứ nhìn chúng tôi và anh cũng khóc…Cảm ơn Chúa lòng đá mà Chuá còn khiến trở nên con cái Áp ra ham được. Một lát sau người anh em ấy cũng khóc khóc và khóc nức nỡ với Chúa. Như Phierơ khóc sau khi gà gáy ba lần. Sau đó người anh em ấy đến cùng cán bộ và nói: “nếu tôi phải ở tù thì tôi ở chứ tôi không bỏ Chúa đâu. “Tôi sẽ ở lại chứ không về.
Cảm ơn Chúa những lới cầu thay của chúng tôi mà dân làng nghe tin người anh em ấy cũng khóc và cầu thay cho anh. Sa tan tiếp tục thất bại khi Phi-e-ơ ăn năn trở lại đầu phục Chúa. Cảm ơn Chúa ma quỷ không thể phá hại được Hội Thánh của Đức Chúa Trời là Hội Thánh mà Ngài đã mua bằng huyết của Ngài.
Sau khi người anh em ấy ăn năn trở lại thì anh em chúng tôi được Chúa ban cho năng lực mới. Chúng tôi luôn dành thì giơ cầu nguyện chiến trận thâu đêm. Ngợi khen Chúa nơi ấy rúng đông, công an không thể chịu nỗi lời cầu nguyện của chúng tôi. Họ không làm gì được chỉ có ý ghét và ném đá ban đêm vào trại chúng tôi. Chứ không thể làm được gì trước sức mạnh thuộc linh mà chúng tôi đang có. Chúng tôi cùng nhau an ủi khích lệ nhau bằng lời của Chúa để vượt qua bối cảnh này. Và thời hạn ra toà cũng đến rồi tôi được tròn 5 tháng ở trại giam Trà Bồng còn các anh em thì được tròn 7 tháng.
Lúc này họ đưa Lộc, Trường, Duy ra toà trước tôi một ngày. Anh em bây giờ rất mạnh mẽ sẵn sàng đối diện với quan toà. Quan toà hỏi: “anh Trường anh có nhận thấy anh có tội lỗi gì không?” Anh Trường thưa: “Chúa Jesus đã đổ huyết ra gánh toàn bộ tội lỗi của tôi rồi…” Quan toà sững sốt trước câu trả lời lạc đề này. Họ không thể hiểu Trường đang nói gì. Họ không thể địch nổi với những lời nói mang tính chất thuộc linh của các anh em như Phierơ và Giăng ngày xưa trả lời với các Trưởng lão: “Thà phải vâng lời Đức Chúa Trời còn hơn vâng lời người ta” (Công vụ 5 : 29)
Họ quyết định truy tố anh em với mức án như sau :
+ anh Duy 36 tháng tù ở
+ anh Lộc 18 tháng tù ở
+ anh Trường 24 tháng tù ở
Anh em bây giờ vui vẻ chấp nhận không chút phàn nàn, oán trách.
Sáng hôm sau cán bộ tại Trà Bồng đình chỉ mọi công tác để đưa tôi ra toà. Quả thật hai thế lực đang tranh chiến. Chúng tôi chiến đấu cầu nguyện suốt đêm. Sáng thức dậy tôi cảm thấy như là mình đang đi trên các tầng mây vậy. Còn bọn cán bộ đối với tôi chỉ là nhỏ bé không đáng kể gì. Tôi không hề cảm thấy sợ một chút gì. Phiên toà sáng nay có sự thông tin rộng rãi cho toàn dân chúng. Một phiên toà cực kỳ lớn có toàn bộ công an huyện Trà Bồng cùng với công an tỉnh Quảng Ngãi và một lực lượng vũ trang của huyện rất lớn mặc đồng phục đứng đầy chung quanh hội trường. Họ đối diện với tôi còn hơn là một nhà cải cách, một tên phản động, một phạm nhân cực kì nguy hiểm. Khi tôi ra toà thì có ba tôi, 2 đứa em tôi, vợ tôi cùng với anh Hơn và anh Đức từ Sài Gòn ra để dự phiên toà. Bây giờ tôi được đưa ra trước vành móng ngựa.
Quan toà tra hỏi tôi: “Ai sai anh truyền đạo Tin lành” Tôi trả lới với quan toà: “Tôi vâng theo mạng lệnh của Đức Chúa Trời mà truyền đạo Tin lành. Kinh Thánh chép: “Vậy hãy đi dạy dỗ muôn dân, hãy nhân danh Đức Cha, Đức Con, Đức Thánh Linh mà làm phép báp têm cho họ và dạy họ giữ hết thảy mọi điều mà ta truyền cho ngươi.” (Mathiơ 28 : 19-20)
Họ rất sợ hãi vì tôi nói ra lời Chúa. Ngay trên vành móng ngựa giờ đây họ hãm âm thanh của tôi, họ bắt đầu cùm tay tôi vì cớ họ rất sợ hãi. Không hiểu vì sao mà họ là người bắt bớ tôi kết án tôi mà lại sợ tôi như vậy.
Một câu hỏi nữa họ hỏi tôi: “Anh lên Trà Bồng truyền đạo được bao nhiêu lần rồi ?” Thưa quan toà: “tôi truyền đạo tại Trà Bồng rất nhiều lần không thể đếm hết được là bao nhiêu lần.”
Họ hỏi: “anh có phải là công dân của nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam không ?” Tôi trả lời: “Vâng! Không những tôi là công dân của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt nam mà còn là công dân của Vương quốc Đức Chúa Trời.”
Họ lại tiếp:“Tại sao? Anh không vâng theo luật pháp của nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa việt nam.” Thưa: “Tôi thà vâng theo luật pháp nước Trời còn hơn vâng theo luật pháp của nước Việt nam ( Công Vụ 5 : 29 ). Vì luật pháp nước Đức Chúa Trời còn lại đến đời đời còn luật pháp của các ông tạm thời mà thôi.”
Khi nghe tôi nói xong họ sững sốt kinh hoàng. Biết rằng tôi không chút sợ hãi gì, không sợ chết, sợ tù gì cả. Họ nghị án là 2 năm nhưng kết án là 3 năm tù giam. Sau khi xử án xong thì tôi gặp bố tôi. Bố tôi nói: Sao con nói nóng nảy như vậy. Sao con không xin để họ giảm án để con được về. Thưa ba con đâu có lỗi gì mà phải xin giảm án. Còn dân chúng thì xôn xao trước những câu nói của tôi.
Sau khi kết án xong họ vẫn cùm tay tôi và dẫn tôi về trại giam. Họ bố trí cho lính giam tôi thật kỹ. Không cho ăn theo tiêu chuẩn và tiếp tục cùm. Tạ ơn Chúa Ngài biết sức chịu đựng của tôi. Chỉ trong 3 ngày 3 đêm thì họ mở cùm ra. Vì cùm tay rất khó chịu, khó ngủ vì hễ khi nào tôi cựa là tay tôi bị kẹp rất đau. Tôi ở trại tù Trà Bồng khoảng 20 ngày và họ lại chuyển tôi đến trại giam Quảng Ngãi.
TRẠI GIAM QUẢNG NGÃI
Tôi tưởng rằng những ngày tháng gian khổ chắc họ đãi tôi như vậy là đủ rồi. Vào đến Quảng Ngãi là mọi chuyện sẽ đựơc giải quyết tốt hơn. Vì ở đây chính quyền sáng suốt hơn ở huyện Trà Bồng. Vì người xử án tôi là người dân tộc Koor có lẽ họ không nắm chắc luật pháp hay cục bộ hơn. Nên họ mới xử tôi 3 năm. Nghĩ như vậy chứ không phải là như vậy. Việc tôi ở tù là việc của chính quyền có hệ thống từ trên xuống không có bất cứ nhầm lẫn gì. Họ thống nhất từ trên xuống dưới cả rồi. Cảm ơn Chúa Ngài cho phép họ xử sự như vậy với tôi là có ích cho tôi.
Công an Trà Bồng làm thủ tục chuyển tôi, Lộc, Duy, Trường cùng một chuyến vào Quảng Ngãi. Nơi đây gọi là trại giam của tỉnh Quảng Ngãi. Nó được xây dựng rất quy mô và hệ thống. Bao gồm cả nơi tiểu tiện và nơi tắm rửa. Không khí nơi đây có vẽ thoáng đảng hơn. Làm việc có quy củ và giờ giấc hơn. Vấn đề thăm nuôi cũng dễ hơn. Cảm tạ Chúa. Tôi ở trong một căn phòng gồm có 20 người, phần đa là người lớn tuổi có tội trạng lớn như tội Chính trị, tham ô của Nhà nước…Số người này có trình độ hơn những người phạm tội hình sự. Có vẽ họ biết tôn trọng lẫn nhau. Tất cả đều ở chung một căn phòng rộng 15m và dài 8m.
Phòng sạch sẽ có vệ sinh. Khi vào ai nấy cũng hỏi anh tội gì mà phải vào đây tôi kể cho họ tôi vào đây là vì cớ Đạo Tin lành, vì cớ Chúa Jêsus. Ai nấy nghe xong đều ngạc nhiên. Họ nói điều này không thể gọi là tội được mà họ cũng kết tội. Ông cụ Hoàng nói: “Sức mạnh gọi là Phải là Đúng, còn yếu là Sai, là Bậy.”
Cảm ơn Chúa. Ở đây tôi chiếm được tình cảm của tất cả các anh em cùng phòng và bắt đầu nói Tin lành cho họ. Tôi bắt đầu với ông giám đốc ngân hàng rồi cụ Hoàng, phạm tội chính trị và anh chàng Danh. Vì không có Kinh Thánh nên tôi phải viết bài giảng và các câu Kinh Thánh gởi cho các phòng lân cận. Chẳng may bị phát hiện. Ban giám thị trại đến khám xét phòng tôi và họ tìm thấy một số tài liệu Cơ Đốc của Tôi và Trường. Tôi xin xác nhận là toàn bộ tài liệu là của tôi chứ không có liên quan gì đến các anh em Duy, Lộc, Trường.
Sau đó họ làm việc với tôi, có ông cán bộ Ngọc khét tiếng là đánh người và tôi được vinh dự làm việc với ông. Mới vào chưa nói gì thì ông cho tôi một trận đòn túi bụi, tối tăm mù, mịt cả mặt mày. Ông khống chế từ đầu. Rồi sau đó mới làm việc. Nhưng có một điều lạ là sau khi đánh tôi xong ông lại bắt sợ. Ông nói : “tôi đánh anh để cho anh kiện tôi.” Tôi thưa cán bộ tay cán bộ đánh vào thân thể tôi nó còn đó, tôi nói cho cán bộ biết tôi là người Tin lành. Chắc cán bộ biết rõ là tôi không bao giờ kiện cáo.
Trong buổi làm việc hôm ấy tôi chấp nhận tôi là người Truyền đạo, tất cả tài liệu là của tôi. Họ bắt tôi phải ký vào bản kiểm điểm và áp đặt cho tôi lệnh kỷ luật trong vòng 7 ngày. Tôi bị nhốt vào một buồng giam cách biệt với bên ngoài tên là Phòng Biệt Giam A1.. Nhưng chưa đủ trong thời gian đó họ trình sự việc của tôi lên sở Công An Tỉnh và đòi truy tố tôi thêm ba năm tù giam nữa (tổng cộng là 6 năm). Họ nói: “anh ở ngoài xã hội cũng vì vụ này mà vào đây, bây giờ lại tiếp tục nữa, không hiểu anh muốn gì nữa đây.” Tôi nói: “ Thưa ông! ông thử nghĩ tôi có nên nói về việc lành cho những người phạm tội này không? Tôi phải nói cho họ biết lẽ thật để họ từ bỏ con đường cũ, ngay cả các cán bộ tôi cũng hằng đêm Cầu Nguyện cưu mang để Chúa thương xót giải bày lẽ thật cho cán bộ. Huống chi là đối với phạm nhân sao tôi lại không nói.” Thật đúng người rao giảng tin lành không thất nghiệp dù thuận thời hay nghịch thời tin lành vẫn được rao giảng.
Tôi ở tại trại tù Nghĩa Kỳ, Quảng Ngãi 3 tháng. Mục đích ở đây là để kháng án. Theo đơn kháng án của vợ tôi. Toà án nhân dân tỉnh Quảng ngãi xử lại vụ án của tôi vào tháng 12/1995. Ông Nành là quan toà thuộc toà án tỉnh Quảng Ngãi xử. Ông cũng hỏi đi hỏi lại những câu hỏi như quan toà tại Trà Bồng đã hỏi.
Họ sững sốt khi nghe tôi nói về lời Chúa và danh Chúa. Cuối cùng không còn gì thắc mắc họ vẫn giữ nguyên mức án cũ. Họ nói: “anh đến Trại Nghĩa Kỳ, Quảng Ngãi làm rúng động trại Nghĩa Kỳ, làm khó khăn cho toàn trại Nghĩa kỳ.”
Họ không được yên, họ phải liên tục lục soát vì sợ tôi có liên lạc với bên ngoài. Ban giám thị trại giam Nghĩa kỳ không đủ sức giữ tôi lại nữa. Vì ở đây tôi liên tục hoạt động truyền bá phúc âm dưới mọi hình thức. Họ kỹ luật tôi rồi tôi cũng tái diễn như cũ. Chuyển từ phòng này qua phòng khác, tôi qua phòng khác hoạt động ở phòng khác. Phòng 4 có 18 phạm nhân thì có 11 người tin Chúa. Họ không thể cấm ngăn được sự phát triển của đạo Chúa tại đây. Họ đành phải chuyển tôi đến trại giam Nghĩa Hành.
CÔNG VIỆC VÀ HOÀN CẢNH Ở GIA ĐÌNH
Trong khi tôi phải thi hành án thì vợ tôi mới sinh con được 14 ngày. Trong nhà hoàn cảnh đơn chiếc một mẹ và ba con nhỏ. Hoàng Bích con đầu của tôi thậm chí còn chưa được đi học lớp đầu tiên. Vợ tôi phải một mình chấp nhận cảnh kham khổ, một mình đảm đang, tháo vát mọi công việc, phần thì phải chăm sóc con nhỏ, phần thì phải làm ruộng để sinh sống. Phần thì phải lo cho căn nhà sắp sập. Đúng là cả một gánh nặng, bể khổ đang đè nặng trên vai người phụ nữ bé nhỏ này.
Nhưng tạ ơn Chúa vì ân điển của Ngài. Chúa dùng bố mẹ vợ tôi và các anh em xa gần khích lệ an ủi và cũng góp phần giúp đỡ, nếu không chắc có lẽ rất khó cho vợ tôi.
Thật kỳ diệu giữa cảnh giông tố phong ba của cuộc đời mà vợ tôi lại có đức tin rất mạnh mẽ. Không chút nao núng sợ hãi mà lại cảm thấy bình an. Ngôi nhà tồi tàn ấy cũng đến thời điểm phải sập. Nhưng tạ ơn Chúa vợ và các con tôi bình an. Thế là vợ tôi phải xây dựng lại một căn nhà khác trị giá là 15 triệu nhưng trong tay không có đồng nào cả. Tôi thiết nghĩ khi tôi còn ở nhà vợ chồng khoẻ mạnh cũng không thể làm được căn nhà như thế. Tôi không hiểu làm thế nào mà nhà tôi có thể làm được như vậy. Chỉ có phép lạ của Chúa và ai cũng ngạc nhiên. Họ nói đúng là Chúa làm. Ở quê tôi nhiều người cả đời làm lụng vất vả mà chưa chắc có tiền để nhà xây nhà như vậy. Nhiều người sống cả đời vất vả trong căn nhà tranh vách đất. Thêm vào đó vợ tôi còn phải nộp tiền học cho con tôi đến trường, rồi tiền chợ quán hằng ngày, hằng tháng còn phải thăm nuôi tôi. Nếu không có sự thăm nuôi cung cấp từ phía gia đình thì làm sao tôi có thể sống được trong cảnh nhà tù Việt nam. Cảm ơn Chúa vì Ngài là tốt lành sự nhân từ Ngài còn đến đời đời.
CẢNH TÙ Ở HÀNH THIỆN NGHĨA HÀNH
Ở đây chính thức gọi là Trại cải tạo. Vừa vào trại là họ cho tôi học tập liền ba tháng nội quy. Học xong là phải đi lao động. Phải ra đồng ruộng, lúa đang chờ con người. Cải tạo là phải làm việc cật lực để kiếm từng chén cơm. Tưởng rằng làm nhiều hưởng nhiều chứ nào đâu phải thế dù có làm nhiều cũng chỉ hưởng theo chế độ, chỉ một phần nhỏ bé mà thôi. Vâng, nơi đây cũng chính là nơi luyện thép. Mọi thứ đều có kỹ cương, phép tắc rất hà khắc. Tạ ơn Chúa Ngài ban sức khoẻ cho tôi. Ở đây làm việc rất nặng nề nhưng mọi việc tôi làm tôi cảm thấy có vẽ rất nhẹ nhàng mà có năng suất cao. Tôi cuốc 400m2 ruộng chỉ trong một buổi còn một buổi chiều tôi làm việc khác. Cắt lúa thì tôi cắt 400m2 trong một buổi nói chung là rất mệt nhọc nhưng Chúa luôn ban sức cho tôi như Ngài đã ban sức cho dân Ysơraên trong hoàn cảnh họ bị nô lệ phải lao công lao lực phục dịch cho Pha-ra-ôn vậy.
Tôi cầu nguyện với Chúa xin Ngài an ủi khích lệ và sớm giải cứu tôi. Và Chúa đã nhậm lời tôi. Tin tức về tôi lan rộng khắp đó đây và anh em cơ đốc khắp nơi biết về tôi và cầu nguyện cho tôi, cũng có một số người gửi thư đến an ủi tôi. Dù thế lực này có gắt gao đến đâu đi nữa thì họ cũng phải chấp thận thư từ khắp nơi gởi đến trại giam cho tôi. Tôi tin là thế lực đời này phải thất bại trước thế lực của Đức Chúa Trời và Nhà Nước này phải thừa nhận đạo Tin lành. Lẽ thật là Lời Đức Chúa Trời, Kinh Thánh phải được in ra. Tôi tin chắc như vậy.
Cuối 1995 nhiều nguồn tin cho hay Việt nam không được phép tham gia vào tổ chức thương mại thế giới và phải bị cắt giảm các khoảng viện trợ vì cớ Việt nam không tôn trọng nhân quyền cấm tự do tôn giáo và bắt bớ đạo Chúa (tờ báo nhân dân ngày 24-10-1997 đưa tin).
Họ trả lời dư luận rằng Việt nam chỉ bắt bớ những người lợi dụng quyền tự do dân chủ, xâm phạm lợi ích nhà nước và nhân dân. Cái điều luật này chỉ cho phép và áp lực gắn cho người Truyền đạo và giấu đầu lò đuôi. Chứng tỏ chính quyền địa phương xác nhận là truyền đạo tin lành rõ ràng và chữ ký còn đến ngày hôm nay. Về chứng thực là người ở trong tù, chính công an chụp hình của tôi tại trại tù và hình đó được gởi đi khắp đó đây và hình đó là sự thật. Tôi, Hồ Hoàng Duy, Đinh Tấn Lộc, Đinh Thanh Trường, Nguyễn Gia Phái, Đinh Vĩnh Bê, Trần Văn Vui, Nguyễn Đức Lợi. Người ta nói bứt dây động rừng. Tin lành không chỉ ở Việt nam, mà còn ở khắp nơi trên thế giới. Chúa vẫn sống trong lòng người và chứng thực người lương thiện và người gian ác. Chắc chắn Ngài sẽ bênh vực người công bình. Lòng các vua không khác nào dòng nước chảy Ngài làm nghiêng lệch bề nào là tuỳ ý Ngài. (Châm ngôn 21 : 1)
Ngày xưa Ngài đã thay đổi lòng của Nê-bu-cát-nết-sa khiến ông phải ngợi khen Ngài và lệnh cho dân chúng phải thờ phượng Ngài, không cho xâm phạm đến ba bạn Hêbơrơ. Khi ba bạn này đã liều mình dám sống cho Chúa, không quỳ lạy trước các pho tượng mà vua dựng nên, dẫu lửa đốt lên gấp 7 lần cũng không thể nào thiêu đốt được ba bạn Hêbơrơ. Vì Đức Chúa Trời ở trong họ.
Dẫu có sự áp lực lớn từ thế lực hung bạo này đến đâu để thanh toán mạng sống của tôi cũng không thể được vì Đức Chúa Trời ở trong tôi. Đức Chúa Trời bảo vệ tôi người đời làm chi tôi được (Hêbơrơ 13b : 5).
Cảm ơn Chúa qua biến cố này vợ tôi gởi thư đến thủ tướng Võ Văn Kiệt đã tác động đến lòng của họ và họ có cái nhìn khác với tôn giáo cũng như Kinh Thánh một thời gian sau đó được cho phép in ra. Tôi thấy rằng Đức Chúa Trời là thành tín; Ngài thành tín với lời của Ngài.
Khi tôi vào trại giam Hành Thiện tôi vẫn tiếp tục truyền giáo trong tù. Có 4 phòng giam chứa 180 người và tôi viết các câu Kinh Thánh gởi cho các phòng, có khoảng 20 người tin Chúa và gây chấn động tại đây. Ban giám thị bắt tôi đứng trước giữa hội chúng và bắt đầu phỉ báng tôi. Tôi hỏi: “giữa điều lành và điều dữ tôi nên làm điều nào? Chính các ông là người lãnh đạo mà tôi còn cưu mang và cầu nguyện cho huống chi họ là phạm nhân tại sao tôi không noí tin lành cứu rỗi cho họ.”
Ông giám thị lên tiếng: “nơi đây là trại giam anh nên nhớ chứ không phải là Thánh Đường mà anh muốn nói gì thì nói. Anh làm ơn để cho chúng tôi được yên. Ở ngoài đời anh đã phạm tội truyền đạo nay anh vào đây lại tiếp tục gây rối loạn trong trại tù. Anh muốn gì đây?”
Họ cố tìm những sai phạm khác của tôi bằng cách cài những phạm nhân khác để theo dõi tôi. Nhưng cũng không thể tìm ra sai phạm gì khác. Và những người theo dõi tôi cũng bị thuyết phục bởi lẽ thật. Cuối cùng họ lại bỏ tôi vào một cái phòng biệt giam để kỷ luật tôi. Và sau đó họ ra lệnh cho toàn bộ các phạm nhân khác không được đến gần hay nói chuyện với tôi hoặc nhận bất cứ giấy tờ nào của tôi. Ai vi phạm sẽ bị kỹ luật nặng.
Vào buổi trưa ngày 06/06/1996, có hai phạm nhân tên Nguyễn Thanh Quang và Trần Văn Vui đến nói chuyện với tôi, cán bộ Bé nhìn thấy. Anh Quang bị lập biên bản và bị nhốt vào phòng biệt giam trong 14 ngày còn tôi và Vui cũng bị nhốt vào phòng biệt giam nhưng hình thức nặng hơn là không có thời hạn. Cấm không cho thăm nuôi hay tiếp trợ lương thực. Họ dùng chiêu cắt dạ dày, để thử xem còn đủ sức mà truyền đạo nữa không. Tuy tình thế tồi tệ nhưng vậy nhưng Đức Chúa Trời là tốt lành. Tôi biết Ngài có cách giải cứu tôi bảo toàn sự sống của tôi giống tiên tri Êli ngày xưa tại khe Kêrít. Chúa dùng chim quạ để nuôi sống ông. Chúa nhắc tôi nhớ đến điều này. Tôi tin Chúa có thể làm được mọi sự . Cho dù tôi ở nơi khô hạn này nhưng chắc chắn Chúa sẽ giải cứu tôi tiếp trợ tôi. Trong thời điểm rất là căng thẳng họ cắt đứt mọi mối quan hệ giữa tôi và gia đình cắt đứt con đường lương thực hầu đẩy tôi đến con đường cùng sẽ chết dần chết mòn vì thiếu dinh dưỡng. Và lúc này là lúc vợ tôi đang bận xây dựng nhà cửa nên không thể thăm nuôi tôi được chỉ có thể gởi lương thực mà thôi nhưng làm sao mà gởi đây? Tôi chỉ biết cầu nguyện kêu cầu Chúa.
Thế là một điều kỳ diệu đã xảy ra. Chúa dùng một phạm nhân tên là Nguyễn Văn Bình vì quá yêu mến tôi nên anh đến và nói với tôi. Bình nói sẵn sàng làm tất cả vì tôi ngay cả liều mạng sống vì tôi. Bình hỏi tôi có muốn Bình về nhà tôi lấy tiền và lương thực vào nuôi tôi không? Tôi nói: “Muốn chứ! Nhưng làm thế nào đây?” Bình nói: “em sẽ về nhà anh.” nhưng tôi cứ hỏi bằng cách nào? “Em sẽ nhờ một người bạn đốn cũi thay cho em còn em sẽ lẽn vào rừng và chạy xuống phía dưới gần đồng bằng và thuê một chiếc xe ôm em nghĩ đi về trong vòng 1 ngày (48 km) không ai biết đâu. “ Bình nói. Tôi nói em phải hết sức cẩn thận vì nếu họ biết được thì kỷ luật và chồng thêm án đấy. Nói như vậy nhưng tôi vẫn tin rằng Chúa sẽ phù hộ và đưa đường cho Bình. Tôi lấy cây bút và tờ giấy và viết vài dòng chữ thăm gia đình và nói vợ tôi cố gắng gởi lương thực, nuôi tôi lúc này vì đây là thời kỳ cực kỳ khó khăn. Tôi gởi cho Bình và Bình giữ tờ giấy ấy rất cẩn thận vì nếu bị phát hiện thì cả hai sẽ gặp rắc rối lớn. Nhưng tạ ơn Chúa Bình cẩn thận giữ tờ giấy này. Cán bộ liên tục kiểm tra lục soát, nhưng không tìm thấy và qua hôm sau Bình thực hiện chuyến đi về đến nhà tôi. Đến nhà tôi, lúc đầu vợ tôi chưa tin nhưng sau đó Bình gởi lá thư ngắn của tôi cho vợ tôi và vợ tôi tin tưởng khi thấy những dòng chữ của tôi nên vui mừng cảm ơn Bình và gởi cho Bình 100.000đ cùng với một ít lộ phí cho Bình. Bình không ở lại ăn cơm mà khẩn cấp đi ngay vì sợ bị phát hiện. Thật là một chuyến đi đầy nguy hiểm nhưng cũng may mắn. Cảm ơn Chúa Ngài che mắt bọn giám thị nên chúng không phát hiện được. Bình mang tiền đến cho tôi 100.000đ tôi cho bình một ít. Bình quyết định không nhận Bình nói Bình có nhận tiền của vợ tôi rồi tiền này là để nuôi sống tôi. Tôi nói anh cảm ơn em rất nhiều nhớ hết sức cẩn thận; đừng để cho họ biết em có quan hệ với anh. Nếu họ biết là rắc rối lớn cho em đấy.
Cảm ơn Chúa Bình chỉ ở bên ngoài và liên lạc với tôi chỉ bằng giọng nói. Tôi nhận ra tiếng Bình nhưng không thể thấy bình được chỉ thế tôi nhưng không bị phát hiện. Em giúp anh nhé dùng số tiền này mua đậu xanh và đậu nành đem nghiền ra cho anh. Ở đây anh có thể tìm ra nước sôi. Mỗi khi có nước sôi anh sẽ chế uống thế là sẽ vựơt qua ãi gian khổ này thôi. Thế là Bình làm y như lời. Tôi ở trong phòng biệt giam mà vẫn sống vẫn khỏe mạnh Ngợi khen Chúa. Ngài là Jêhôva Dirê đấng sắm sẵn và lo liệu hết thảy mọi điều. Ai nấy điều ngạc nhiên từ cán bộ đến phạm nhân khi nhìn thấy thân thể tôi không những không tiều tuỵ, xanh xao mà lại trở nên mập hơn, khoẻ hơn khi ở ngoài.
Đã ngót ba tháng rồi nhưng cơn bão lữa này vẫn chưa chấm dứt. Lương thực đã cạn kiệt, Chúa dùng cách khác để nuôi tôi. Bác Lưu một đảng viên giám đốc ngân hàng người có 40 tuổi đảng lúc này ông lại vào tiếp trợ lương thực cho tôi vì ông là người của cách mạng nên dễ dàng cho ông vào thăm nuôi. Cảm ơn Chúa tôi không chết đâu, thêm một người anh em khác lẽn vào tiếp trợ lương thực cho tôi tên anh là Lợi. Tôi không bị đói mà có lẽ lương thực còn dồi dào hơn bên ngoài nữa. Cảm ơn Chúa. Chúa nuôi chứ không phải con người nuôi. Ngài đã sử dụng rất nhiều người để nuôi sống tôi trong cơn gian truân này.
Vào ngày 15/09/1996. Cơn mưa mùa đông đã đến mà căn phòng của tôi thì nhỏ bé không chút ánh sáng, tôi nằm ở dưới đất và nước thì tràn vào thật là ẩm ướt tôi không sao ngủ được phần thì ẩm ướt, phần thì lạnh lẽo hôi thối ai sẽ cứu ta ra khỏi chốn này đây? Tôi quyết định liên lạc với anh Vui để kiêng ăn cầu nguyện. Anh rất đồng tình với tôi. Suốt đêm chúng tôi cầu nguyện, ngợi khen Chúa đến nỗi các phòng bên cạnh phạm nhân không thể ngủ được. Cán bộ chỉ đến gõ cửa phòng chứ không làm gì được. Chúng tôi hứa nguyện với nhau trong 5 ngày không ăn chỉ dành thời gian Cầu Nguyện mà thôi. Phần cơm khổ hạnh mà họ mang đến tôi không ăn để ra ngoài cho đến ngày thứ 3 sự việc này đến tai ban giám thị của trại. Họ phải trực tiếp xuống và làm việc với tôi. Ông Hải giám thị phó bắt đầu dùng lời lẽ ngọt ngào nói với tôi nếu ở đây quá khó khăn cho anh thì anh hãy viết giấy cam đoan rằng anh sẽ không truyền đạo và quấy rối ở đây thì tôi sẽ cho anh ra khỏi đây nếu không anh sẽ bị hao mòn đến tính mạng đấy. Hãy ăn lại đi, đừng làm bậy. Tôi nói tôi quyết định kiêng ăn là kiêng ăn chứ tôi không ăn lại đúng 5 ngày ông bảo trực trại đem tôi ra khỏi phòng giam. Halêlugia Cảm ơn Chúa. Ông bảo tôi viết cam đoan như vậy từ này không được truyền đạo nữa thì tôi cho anh ra khỏi đây. Nhưng tôi không viết như vậy. Tôi chỉ viết ở đây tôi không khuấy rối người khác mà chỉ đem an vui cho mọi người. Ông trực trại đem lời cam đoan của tôi gởi cho ông Hải. Ông Hải không đồng ý cho tôi ra mà tôi vẫn tiếp diễn công việc cũ. Tôi nói với ông trực trại rằng nếu ông không đồng ý cho tôi ra ngoài thì cứ đem tôi vào phòng biệt giam lại như cũ đi chứ còn lập trường của tôi là thế. Chúa đóng thì không ai mở được mà Chúa mở thì không ai đóng được.
Ha-lê-lu-gia tôi được ra ngoài được tự do hơn một tý. Tổng cộng tôi ở trong phòng biệt giam là 105 ngày tại trại giam Hành thiện. Sau khi thả tôi ra họ còn nhốt thêm anh vui 2 ngày nữa. Trong 7 ngày không ăn chúng tôi như trái banh bị xẹp vậy. Và chỉ trong vòng nữa tháng sau đó thì trở lại bình thường và giống như trái bình đầy hơi vậy. Cảm ơn Chúa. Ngài đưa tôi đến đâu thì đem sự rúng động đến đó. Đảo lộn tất cả mọi thứ. Ngày trước họ chỉ cấp lương thực như củ lang rất hạn chế theo cái gọi là “chế độ” nhưng hôm nay thì có khác hơn. Họ cấp nhiều hơn so với trước. Củ lang rất nhiều có thể ăn dư dật. Mà củ rất to. Được mùa củ to bằng bắp vế. Họ cảm thấy rất lạ đến nỗi dân cư ở ngoài trại cũng vào để mót và xin của Trại. Một điều lạ nữa là đây là nơi cao vào mùa hạ thường thiếu nước tưới, nước sinh hoạt mà bây giờ thì lại dư dật. Giô sép ở nhà quan thị vệ Phô-ti-pha thì Đức Chúa Trời chúc phước cho quan được thịnh vượng, giàu có trong mọi sự. Cảm ơn Chúa Ngài ban phước cho mọi việc tôi làm ở trong trại tù nhờ đó mà các phạm nhân cũng được hưởng được no nê.
Một hôm nọ tôi muốn làm phép báp têm cho hai nhân sự của tôi là Tuấn và Quang.Tôi không biết làm sao giếng thì sâu lại không có thế. Tôi Cầu Nguyện xin Chúa chỉ cho tôi một nơi. Đã lâu rồi trại không quan tâm đến việc xây dựng giếng cũng như hồ tắm cho anh em thì giờ đây họ lại có kế hoạch xây dựng hồ chứa nước tắm cho anh em. Rất phù hợp với điều mà chúng tôi Cầu Nguyện . Tôi nói giờ đây anh em sẵn sàng chưa. Đợi lúc mọi người ngủ trưa anh em chúng tôi ra hồ múc nước cho đầy hồ chứa và tôi bắt đầu làm phép báp-tem cho anh Quang sau đó vài hôm tôi làm phép báp têm cho Tuấn. Thế là có 2 nhân sự tại trại giam Hành Thiện được làm phép báp têm.
Cảm ơn Chúa qua đời sống mẫu mực của tôi trong trại nên có ảnh hưởng đến rất nhiều người. Từ cán bộ đến phạm nhân. Giờ họ lại bảo phạm nhân bắt chước theo đời sống của tôi bỏ rượu, thuốc lá. Nhưng mà bắt chước không được. Cán bộ lại ép buộc họ theo lịnh nhưng cũng không thành công. Nhưng ngược lại với những anh em đã tin Chúa thì khác hẵn chuyện này đối với họ rất dễ. Cán bộ trong trại phải xác nhận rằng những người tin Chúa và nghe theo tôi thì có một đời sống khác hẵn.
Sức mạnh trong tình yêu của Chúa mạnh hơn cả vũ lực hơn cả cây súng của họ.
Họ nói: “anh Trung ơi ! Anh nói sao mà tụi nó nghe lời anh giỏi vậy.” Tôi trả lời: “Không phải tôi mà là Chúa làm cho họ thay đổi.”
Thêm một sự kiện nữa. Thời điểm này họ phổ biến luật dân sự cho tất cả các phạm nhân học tập. Họ nói ai đạt được điểm cao trong kỳ thi luật dân sự này thì sẽ có phần thưởng. Đây là kỳ thi luật dân sự mang tính chất toàn quốc. Ai cũng được học và dự thi, từ người có trình độ cao đến người trình độ thấp. Có nhiều người có bằng cấp học thức nào là bằng đại học Luật, đại học Kinh tế… toàn là bậc thầy cả. Và họ nhờ vào sức riêng của họ. Còn tôi thì trình độ thấp kém và tôi chỉ biết nói với Chúa rằng lạy Cha xin giúp con. Đề thi yêu cầu viết một bài luận 400 chữ về luật dân sự không thiếu không thừa, đúng luật. Sau 6 tháng thì kết quả sẽ được thông báo trên toàn quốc. Và thế là thời điểm ấy cũng đến. Một người bạn của tôi ở Trại Kim Sơn gởi thư đến nói rằng tôi đã đoạt giải 3 toàn quốc trong cuộc thi Luật dân sự vừa qua. Tôi rất đỗi vui mừng kể cho một số anh em nghe họ chế giễu tôi, họ nói còn lâu vì người có học thức như họ mà không được giải gì huống chi là tôi. Sau đó tôi lên ban giám thị trại hỏi về vấn đề này họ trả lời rằng đúng là tôi đã đạt được giải trong kỳ thi này không phải giải 3 mà là giải 2 toàn quốc. Tôi hỏi còn phần thưởng thì sao. Họ trả lời họ không rõ. Nhưng thưởng hay không thì tôi cũng không mong nhưng điều Tôi cảm ơn Chúa là Ngài đã dùng kẻ dại dột để làm hổ thẹn kẻ khôn ngoan đời này.( I Côrinhtô 1 : 27 ) Các phạm nhân cũng như cán bộ trong trong trại rất ngạc nhiên, không ngờ tôi chỉ có trình độ lớp 6 (theo cuộc điều tra lý lịch vừa qua)
Trong 3 năm tôi đứng trước nanh vuốt sư tử nhưng cảm tạ Chúa nó không thể hại tôi được gì.
Trước khi hết án phạt tù 10 ngày cán bộ quản lý trại đem cho tôi lịnh hết hạn án phạt tù và bảo tôi ký vào và lăn dấu tay. Tôi nghĩ rằng bước tiếp theo là họ sẽ bắt tôi viết kiểm điểm và cam đoan. Tôi không biết rồi đây mình sẽ viết như thế nào đây. Đúng vào lúc 6h sáng ngày 29/4/1998 cán bộ trực trại kêu tên tôi ra và mời tôi lên gặp ban giám thị trại. Ông Phụng rất vui vẽ với thái độ nồng nhiệt đón tiếp tôi. Ông chỉ nói những vấn đề liên quan đến tình cảm mà thôi. Anh có đem theo đồ gì về không? Tôi trả lời không tôi cho hết các phạm nhân rồi. Thật không một biên bản, cam kết hay là khuyên không nên tái phạm như các phạm nhân khác.
Tôi tin rằng chính ông cũng bị ảnh hưởng bởi Tin lành quyền phép và yêu thương. Ông bảo cán bộ cấp dưới đem xe tiễn tôi đến bến xe và đón xe cho tôi về nhà. Khi ngồi trên chiếc xe tiễn về tôi thiết nghĩ mình vừa mới trải qua một trận chiến oanh liệt, một cái ãi với bao nhiêu nguy hiểm vui buồn. Nhưng nay đã vượt qua đắc thắng thuộc về ta. Tôi cảm thấy nhớ nhớ thương thương các bạn đồng lao trong tù còn các nhân sự và những tín hữu nữa. Cảm ơn Chúa tôi đã chạy xong một phần của cuộc đua và chiến thắng thuộc về tôi. Chưa về nhà, tôi đến nhà cha mẹ vợ tôi thăm họ trước. Nghe tin tôi được trả tự do các anh em điện thoại lên trại hỏi thăm tin tức thì họ nói tôi đã về rồi. Có anh Đức từ Sài Gòn ra anh Hơn, vợ tôi, em tôi và một số anh em khác từ Đà Nẵng, Quảng Nam cũng chờ đón tôi. Ôi mừng ghê! Giờ đây tôi lại được gặp lại các anh em. Tôi chỉ biết khóc trong vui sướng mà thôi. Và người vợ với bao nhớ nhung tháng ngày nữa.Còn các con tôi thì sao? Ôi! tôi thật vui vì đã bao ngày xa cách nay gặp lại.
Qua ngày 30/04/1998 tôi tổ chức buổi lễ Cảm Tạ Chúa tại nhà tôi thật sung sướng đây là cơ hội tốt cho tôi nói lời cảm ơn trước hết là Cha Thiên Thượng Đấng an ủi, khích lệ và nuôi nấng chúng tôi suốt thời gian qua và sau là bố mẹ, các anh em những người đã đồng cảm xẻ chia vui buồn với gia đình tôi trong bối cảnh gian truân.
Ngày 27/05/1998 sau khi hoàn tất mọi thủ tục giấy tờ tại địa phương tôi xin phép tạm vắng tại địa phương và lên đường vào Sài Gòn với kế hoạch là sẽ học Kinh Thánh tại đây suốt thời gian là 6 tháng theo lời mời của anh Đức.
Vào lúc 9 giờ ngày 27/05/1998 tôi và vợ tôi khởi hành chuyến đi nhưng nơi đầu tiên là chúng tôi đến thăm gia đình anh thứ 4 của tôi tại Buôn Ma Thuột. Tôi gặp lại các anh em tôi sau bao nhiêu năm tháng xa cách người em của tôi là Mỹ oà lên khóc sau khi nghe tôi kể về những gì mà Chúa đã làm cho tôi trong thời gian qua. Em quyết định về quê hầu việc Chúa và từ bỏ tất cả. Rất vui mừng khi gặp lại tôi các anh em tổ chức một buổi tiệc liên hoan.
Sau đó tôi phải nói lời chia tay rời Buôn Ma Thuột vào Sài Gòn .Vừa đến bến xe anh Đức đã ra đón tôi. Anh dẫn vợ chồng tôi về nhà anh và đón tiếp tôi rất nồng hậu dẫn chúng tôi đi nhiều nơi để du lịch sau đó chúng tôi được đến dự một hội thảo của Liên Đoàn tổ chức tại Vũng tàu. Trước Hội Thánh, tôi đã làm chứng lại những gì đã xảy ra với tôi và những gì mà Chuá đã làm cho tôi đã làm cho tôi trong thời gian qua. Ai nấy đều cảm động và hứa sẽ cầu nguyện nhiều cho tôi.
Thế là thời gian chỉ có hạn tôi phải tiễn vợ tôi về còn tôi thì phải ở lại đây chờ lớp học cho đến ngày 10/06. Cảm ơn Chúa đây là thời điểm cực kỳ khó khăn nhưng Chúa đã dùng đầy tớ Chúa là Thầy Trần Mai liều mình để mở lớp học Kinh Thánh để đào tạo các giáo viên người lãnh đạo của các Hội Thánh. Đúng ngày 10/06/1998 Thầy Mai cầu nguyện Khai mạc cho lớp học Kinh Thánh. Tổng cộng là 13 học viên: Miền Bắc 11 học viên, Miền Trung chỉ có 1 là tôi, còn Miền Nam thì cũng có 1.
Chúng tôi được học trong một căn phòng tương đối đầy đủ tiện nghi. Nhưng nội quy thì rất nghiêm khắc không được ra ngoài đi đâu phải có phép; không được hát to. Trong suốt thời gian này tôi cũng dành nhiều thời gian Cầu Nguyện nhiều cho quê hương Quảng Ngãi của tôi và cho khải tượng sẽ có 30 nhân sự tại tỉnh Quảng Ngãi trong năm 1999. Tôi cũng đặc biệt cầu nguyện cho anh Lộc, Duy, Trường tại Trà Bồng và Ba-thi tại Sơn Hà để họ là những nhân tố để nhân cấp các nhân sự tại Quảng Ngãi.
9 giờ tối là các học viên đều ngủ còn riêng tôi thì vào phòng riêng đóng cửa lại và cầu nguyện khẩn thiết cho công việc Chúa tại Quảng Ngãi. Tôi cũng trình bày những chiến lược này cho các anh em để cầu thay. Có nhiều người chế giễu tôi; anh trình bày vấn đề vượt quá khả năng của anh. Tôi nói vượt quá khả năng mới gọi là Đức Tin. Khả năng của Chúa chứ không phải khả năng của mình. Cảm ơn Chúa một thời gian sau lời Cầu Nguyện này bắt đầu ứng nghiệm. Tôi được nghe tin tức hằng tháng có khoảng 16 anh em nhân sự tại Sơn Hà và Trà Bồng xuống tại nhà tôi để dự bồi linh và hiệp nguyện. Có hai giáo viên là thầy Kháng và thầy Đông lãnh đạo. Sau đó có nhiều khoá huấn luyện được mở ra tại Sơn Hà.
Cảm ơn Chúa số người được huấn luyện này họ lớn lên nhanh chóng và ra đi rất có kết quả. Trong khoảng thời gian từ tháng 6 đến tháng 12 có khoảng 100 người tin Chúa. Sau khi hoàn tất khoá học tôi trở về và thăm viếng các anh em tại Trà Bồng, Sơn Hà tôi hỏi anh Ba-thi thì anh nói 30 nhân sự thì có đủ rồi. Điều quan trọng bây giờ là phải tiếp tục huấn luyện họ và giữ họ. Halêlugia chưa đến năm 1999 mà Đức Chúa Trời đã làm ứng nghiệm khải tượng và lời cầu nguyện của tôi.
Sau đó tôi cùng Ba-thi và một số anh em khác cầu nguyện và quyết định viết thơ gởi cho Liên đoàn về việc thiết lập Ban Trị Sự của Hội Thánh Quảng Ngãi Khu Vực Miền Trung bao gồm đầy đủ các ban ngành từ Lãnh Đạo đến thư ký, bí thư, thủ quỷ…Nhưng đây cũng là lúc Liên Đoàn gặp nhiều khó khăn và ở trong tình trạng bế tắt. Các anh em có vẽ hơi buồn, tôi nói: “Không ! điều quan trọng là Chuá Jêsus chứ không phải là Liên Đoàn không phải là giáo phái. Sự tiếp trợ đến từ nơi Đức Chúa Trời.” Chúng tôi quyết định tiếp tục Cầu Nguyện và chờ đợi ý Chúa sự tiếp trợ của Chúa. Đây cũng là thời điểm của mùa đông thời tiết ở miền trung thì rất khắc nghiệt, thiên tai liên tục hoành hành. Và dân sự Chúa tại Miền Trung nói chung và Quảng Ngãi nói riêng cũng bị thiệt hại rất nặng nề trong vụ thiên tai này. Mà lúc này thì Liên Đoàn lại đang trong tình trạng khô hạn và khủng hoảng. Thật đây là lúc không lối thoát rất cùng túng giống như thành Samari đang bị vây vậy. Cảm tạ Chúa cũng chính lúc này Chúa lại mở đường. Ngài dùng một đầy tớ Chúa tại Thành Phố Sài Gòn ra và cũng mang theo một số quà để an ủi, khích lệ anh em tín hữu tại Miền Trung vượt qua cơn khó khăn này. Sau đó việc thành lập Ban Trị Sự Hội Thánh Khu Vực Miền Trung cũng được tiến hành. Tôi được bầu làm phó quản nhiệm khu vực Miền Trung. Hội Thánh bắt đầu đi lên từ đây. Có khoảng 1000 Tín hữu tại khu vực Miền Trung.
Không dừng lại đó sự bắt bớ và tấn công dữ dội từ chính quyền địa phương vẫn tiếp diễn. Cảm tạ ơn Chúa tôi vẫn quyết tâm giữ lập trường và kiên quyết sống Phúc Âm. Với sự cưu mang và cầu thay cảm ơn Chúa Ngài đã thay đổi bậc cầm quyền. Cánh cửa của tự do đang được mở ra. Hội Thánh bắt đầu khởi sắc. Tôi cũng thiết lập thêm một số Hội Thánh nữa. Đặc biệt là Hội Thánh Tư Gia tại làng tôi.
Nhưng tôi chỉ mới hoàn tất một chặng đường còn phía trước biết bao chặng đường mà tôi phải đi qua. Còn nhiều khó khăn và thách thức ở phía trước. Trách nhiệm phổ biến phúc âm cho hàng triệu linh hồn, xây dựng cho Chúa một trường Kinh Thánh để huấn luyện, đào tạo con gặt cho Chúa, rất nhiều điều mà tôi phải cưu mang gánh nặng cho Hội Thánh Quảng Ngãi.
Tôi viết những dòng chữ này để gởi đến vợ tôi, các con tôi yêu dấu của tôi và những ai muốn tận hiến cho Chúa Jêsus yêu quý của chúng ta lời tri ân và thông điệp: Hãy tiến về phía trước Chúa đang chờ. Trong Danh Chúa Jêsus Christ. Amen !
MS. Tô Đình Trung
Xong 05/1998

Đăng nhận xét